Câu khoá 4:13-14 ĐỨC CHÚA GIÊ-XU đáp rằng: phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước TA sẽ cho thì chẳng hề khát nữa. Nước TA cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.
- Người Pha-ri-si nghe đồn gì về Chúa Giê-xu (1,2)? Tại sao Chúa Giê-xu rời miền Giu-đê trở về Ga-li-lê (3)? Chúa Giê-xu phải đi qua xứ nào (4)? Hãy suy nghĩ Sa-ma-ri là xứ như thế nào? Chúa Giê-xu đến thành Si-kha vào lúc nào? Ngài ở trong tình trạng như thế nào (6)?
- Chúa Giê-xu gặp ai nơi giếng? Có những ngăn trở gì giữa Chúa và người đàn bà Sa-ma-ri? Chúa Giê-xu xin bà cái gì (7b)? Hãy suy nghĩ về Chúa Giê-xu là Đấng nói “cho Ta xin nước uống”.
- Tại sao người đàn bà lại nổi giận vì lời xin của Chúa (9)? Chúa Giê-xu muốn ban cho cô ta món quà phước hạnh gì? (10)
- Người phụ nữ này đã hiểu như thế nào lời Chúa về nước hằng sống (11)? Tại sao cô ta lại so sánh Chúa Giê-xu với Gia-cốp (12)?
- Nước Chúa Giê-xu ban cho khác với nước giếng Gia-cốp như thế nào (13,14)? Nước “hằng sống” mà Chúa Giê-xu nói nghĩa là gì (Giăng 6:35; 7:38,39)?
- Người phụ nữ này đã xin Chúa cái gì (15)? Chúa phán cô phải làm gì (16)? Tại sao Chúa lại bất ngờ đụng chạm tới vấn đề chồng của cô?
- Hãy đọc câu 19-24. Tại sao người phụ nữ bỗng nhiên lại hỏi Chúa về nơi thờ phượng Đức Chúa Trời (19-20)? Chúa Giê-xu dạy gì về sự thờ phượng? Về sự cứu rỗi? Tại sao đây lại là tin mừng cho người đàn bà này? (2 Sử ký 16:9)
- Người phụ nữ này đã phạm sai lầm gì? Thực ra cô đã chờ đợi ai (25)? Ai có thể trở thành tất cả cho cô – người chồng thật sự của cô (Ê-sai 9:6-7)? Những lời nào của Chúa Giê-xu đã giúp cô ta tiếp nhận món quà ban cho của Chúa (26)?
Ngày hôm nay chúng ta cùng học lời CHÚA với nhau trong Giăng 4. Có ý kiến cho rằng đây là câu chuyện lãng mạn nhất trong Kinh Thánh. Vào 12h trưa một ngày hè nắng nóng, khắc nghiệt của xứ Do Thái, bên giếng Gia-cốp, CHÚA GIÊ-XU đã gặp một người đàn bà rất đáng thương. NGÀI đã học Kinh Thánh 1:1 với cô ta, để rồi qua lời CHÚA GIÊ-XU về nước hằng sống, thì cô ta nhận biết tình trạng thật của mình; một người đàn bà Sa-ma-ri đang đói khát thuộc linh và trở thành nô lệ của tội lỗi để cố gắng thỏa mãn sự khát đó. Người đàn bà đã ăn năn và tiếp nhận CHÚA GIÊ-XU là CỨU CHÚA của mình. Cuộc đời của cô ta đã được biến đổi một cách lạ lùng và cô ta trở thành nhà truyền giáo đầu tiên, người đặt nền móng cho Hội Thánh CHÚA tại Sa-ma-ri. Ngày hôm nay cầu xin CHÚA qua lời NGÀI ban cho chúng ta sự khải thị thiên thượng, giúp mỗi chúng ta nhìn thấy mình là những người đàn ông, đàn bà Sa-ma-ri đang khát trong tâm linh. Để mỗi chúng ta đến với CHÚA GIÊ-XU, tiếp nhận nước hằng sống và chúng ta sẽ chẳng hề khát nữa. A-men!
Chúng ta cùng xem 1-6 [1]Khi Chúa đã hay rằng người Pha-ra-si có nghe đồn Ngài gọi và làm phép báp-têm được nhiều môn đồ hơn Giăng,[2](kỳ thiệt không phải chính Ðức Chúa Jêsus làm phép báp-têm, nhưng là môn đồ Ngài),[3]thì Ngài lìa xứ Giu-đê trở về xứ Ga-li-lê.[4]Vả, Ngài phải đi ngang qua xứ Sa-ma-ri.[5]Vậy Ngài đến một thành thuộc về xứ Sa-ma-ri, gọi là Si-kha, gần đồng ruộng mà Gia-cốp cho Giô-sép là con mình. [6]Tại đó có cái giếng Gia-cốp. Nhân đi đàng mỏi mệt, Ðức Chúa Jêsus ngồi gần bên giếng; bấy giờ độ chừng giờ thứ sáu.
Vào thời CHÚA GIÊ-XU, nước Do Thái bị chia ra làm ba phần. Phía bắc là Ga-li-lê, phía nam là Giu-đê và ở giữa là Sa-ma-ri. Sau phép lạ đầu tiên là biến nước thành rượu để tỏ bày vinh hiển của Mình tại thành Ca-na, CHÚA GIÊ-XU lên thành Giê-ru-sa-lem vào ngày lễ vượt qua. NGÀI tiếp tục chức vụ của mình tại đó cho đến khi các lãnh đạo tôn giáo nghe đồn về NGÀI. Vì không muốn xung đột với các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Giê-ru-sa-lem khi chưa đến thời điểm nên CHÚA GIÊ-XU tạm lìa xứ Giu-đê mà trở về Ga-li-lê. Con đường ngắn nhất từ Giu-đê về Ga-li-lê là qua Sa-ma-ri với ba ngày đường. Nhưng giữa người Giu-đa và người Sa-ma-ri có một mối thù truyền kiếp nên họ không đi qua Sa-ma-ri mà đi vòng với thời gian đi đường gấp đôi đi qua Sa-ma-ri.
Vào khoảng năm 722-721 trước công nguyên, xứ Sa-ma-ri bị đế quốc A-si-ri chiếm và phần lớn dân Do Thái ở đó bị đi đày. Dân từ nhiều vùng khác nhau của đế quốc A-si-ri tập trung đến sinh sống tại Sa-ma-ri. Dân Do Thái còn sót lại đã sống chung và kết hôn với người ngoại. Họ đã phạm một tội lỗi không thể tha thứ đối với người Do Thái đó là đánh mất sự trong sạch của huyết thống, đồng nghĩa với việc họ đánh mất quyền được gọi là dân Do Thái. Từ đó xuất hiện một thứ dân được nhắc đến trong các sách Phúc Âm là dân Sa-ma-ri.
Vào thời của Ê-xơ-ra và Nê-hê-mi, bởi lòng thương xót của ĐỨC CHÚA TRỜI, những người Do Thái bị lưu đày được vua Ba-by-lôn là Si-ru cho phép quay trở về Giê-ru-sa-lem và xây lại đền thờ của ĐỨC CHÚA TRỜI. Người Do Thái từ xứ Sa-ma-ri đến đề nghị được cùng xây dựng đền thờ với dân Giu-đa trở về từ Ba-by-lôn. Nhưng dân Giu-đa đã trả lời một cách miệt thì rằng: dân Sa-ma-ri đã đánh mất sự trong sạch huyết thống nên không còn được phép tham dự vào công việc xây dựng lại đền thờ của ĐỨC CHÚA TRỜI. Dân Sa-ma-ri đã bị xúc phạm và tổn thương ghê gớm. Vì vậy mà họ đã hai lần dâng cáo trạng lên vua Ba-by-lôn nhằm ngăn cản việc dân Giu-đa xây dựng lại đền thờ của ĐỨC CHÚA TRỜI và thành Giê-ru-sa-lem. Lần thứ nhất dân Sa-ma-ri dâng cáo trạng thì dân Giu-đa đã bị cấm xây dựng đền thờ và thành Giê-ru-sa-lem cho đến đời vua tiếp theo. Điều này càng làm cho mối thù hận giữa dân Giu-đa và dân Sa-ma-ri trở nên sâu sắc. Vào năm 450b.c. vua Ma-na-sia lợi dụng sự bất hoà giữa dân Sa-ma-ri và Giu-đa đã xây dựng một đền thờ trên núi Ga-ri-xim để cạnh tranh với đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Vào năm 129 trước công nguyên thì đền thờ này bị phá hủy nhưng mối thù hận giữa người Giu-đa và dân Sa-ma-ri vẫn còn lại cho đến thời CHÚA GIÊ-XU. Dân Giu-đa vô cùng khinh bỉ dân Sa-ma-ri và ngược lại. Những người Giu-đa đi ngang qua Sa-ma-ri có thể bị đánh đập hành hung đến thương tích.
Nhưng trong hành trình từ Giê-ru-sa-lem trở về Ga-li-lê, CHÚA GIÊ-XU đã đi qua Sa-ma-ri. Có thể thấy việc CHÚA GIÊ-XU, là một người đàn ông Giu-đa đi qua xứ Sa-ma-ri là việc không bình thường. Nhưng bằng cách đó, CHÚA GIÊ-XU đã xóa bỏ đi bức tường giữa người Sa-ma-ri và người Giu-đa. Trong CHÚA GIÊ-XU không có sự phân biệt dân tộc, màu da, giai cấp, trình độ học vấn, giới tính nam nữ… Trong CHÚA GIÊ-XU tất cả tội nhân trở thành con cái ĐỨC CHÚA TRỜI, công dân Nước Trời.
Sau nửa ngày đường mệt mỏi với cái nắng nóng ghê gớm của xứ Do Thái, CHÚA GIÊ-XU đã thấm mệt, kiệt sức và đói lả. Nhưng thay vì nghỉ ngơi, ăn uống mát mẻ trong nhà trọ, CHÚA GIÊ-XU lại đến một cái giếng Gia-cốp vào lúc 12h trưa. Tại sao vậy?
Chúng ta cùng xem 7-10 [7]Một người đờn bà Sa-ma-ri đến múc nước. Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy cho ta uống.[8]Vì môn đồ Ngài đã đi ra phố đặng mua đồ ăn.[9]Người đàn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủi kìa! Ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.)[10]Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Ðức Chúa Trời, và biết Người nói: “Hãy cho ta uống” là ai, thì chắc ngươi sẽ xin Người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.
Chúng ta thấy một người đàn bà Sa-ma-ri không bình thường, cô ta đi lấy nước vào 12h trưa, thời điểm nắng nóng nhất của một ngày. Người đàn bà này hoàn toàn ý thức được việc làm của mình, nhưng cô ta đi lấy nước vào giữa trưa để không ai bắt gặp mình. Cô ta sợ phải gặp người khác bởi cô ta có tiếng lẳng lơ. Cô ta sợ nhìn thấy sự chê cười, những lời đàm tiếu và sự khinh miệt của người khác. Có thể nói rằng trong đế quốc La-mã thì xứ Do Thái bị khinh miệt nhất, trong xứ Do Thái thì xứ Sa-ma-ri là xứ bị khinh miệt nhất, còn trong xứ Sa-ma-ri thì người đàn bà này là con người bị khinh miệt nhất. Người đàn bà này tượng trưng cho tầng lớp thấp hèn, bị khinh bỉ nhất của xã hội loài người.
Là một con người bình thường sẽ không ai muốn giao tiếp hay có bất cứ liên hệ gì với những người phụ nữ như vậy. Nhưng CHÚA GIÊ-XU, một người đàn ông Giu-đa đã không chỉ nói chuyện mà còn hạ mình xin nước uống nơi người đàn bà. Điều này với người Do Thái là một sự sỉ nhục rất lớn. Thực ra mạch văn tiếp theo cho thấy Chúa Jesus không khát và Ngài không cần uống nước. Ngài xin nước hạ mình xuống để bắt chuyện với cô ta để ban cho cô ta “nước hằng sống” mà Ngài có. Qua đây chúng ta nhìn thấy tình yêu, sự hi sinh và lòng thương xót của CHÚA GIÊ-XU đối với một linh hồn. NGÀI không quản đói khát, nắng nóng, mệt nhọc đến giếng Gia-cốp vào lúc 12h bởi NGÀI biết ở đó có một linh hồn đáng thương cần nhận sự cứu rỗi. NGÀI không phân biệt địa vị mà hạ mình trước một người đàn bà xấu nết để ban cho cô ta món quà của ĐỨC CHÚA TRỜI.
Người đàn bà trả lời CHÚA GIÊ-XU một cách rất chua ngoa: “Ủa kìa! Ông là người Giu-đa mà lại xin nước uống cùng tôi là một người Sa-ma-ri sao?” Nhưng ĐỨC CHÚA GIÊ-XU đáp rằng: “Ví bằng ngươi biết sự ban cho của ĐỨC CHÚA TRỜI và biết Người nói: “Hãy cho TA uống” là ai, thì chắc ngươi sẽ xin Người cho uống và Người sẽ cho ngươi nước sống.” CHÚA GIÊ-XU dạy dỗ người đàn bà về thế giới tâm linh, về sự ban cho của ĐỨC CHÚA TRỜI. Vậy sự ban cho của ĐỨC CHÚA TRỜI là gì? Thứ nhất – sự ban cho của ĐỨC CHÚA TRỜI là sự sống đời đời, sự cứu thoát khỏi cơn thạnh nộ và trừng phạt của ĐỨC CHÚA TRỜI giáng lên tội lỗi. Thứ hai – sự ban cho của ĐỨC CHÚA TRỜI chính là CHÚA GIÊ-XU. CHÚA GIÊ-XU là ĐỨC CHÚA TRỜI giáng sinh xuống thế gian, sống trong thân xác một con người. NGÀI vô tội nhưng chịu đóng đinh trên thập tự giá vì tội lỗi của cả loài người. NGÀI chính là món quà của ĐỨC CHÚA TRỜI dành cho nhân loại. Mỗi người đều có thể nhận món quà đó một cách nhưng không. Đây chính là ân điển của ĐỨC CHÚA TRỜI. Chúng ta không cần phải làm việc nhiều, không cần phải trở nên xứng đáng hay phải trả bao nhiêu tiền để nhận được món quà này. CHÚA GIÊ-XU đã được ban cho chúng ta, phần của chúng ta chỉ là cầu xin và bằng đức tin tiếp nhận món quà đó từ ĐỨC CHÚA TRỜI.
Chúng ta cùng xem câu 11-12 “[11]Người đàn bà thưa: Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy?[12]Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?”
CHÚA GIÊ-XU dạy dỗ người đàn bà về thế giới tâm linh nhưng cô ta không hiểu bởi suy nghĩ của cô ta hoàn toàn xác thịt: giếng thì sâu, gàu thì không có, bản thân ông đang sắp chết vì khát mà không có nước uống, bày đặt cho tôi nước sống và món quà của ĐỨC CHÚA TRỜI. Nhưng CHÚA GIÊ-XU tiếp tục nhẫn nại giải thích cho người đàn bà.
Chúng ta cùng đọc câu 13-14 [13]Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi;[14]nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời.
ĐỨC CHÚA TRỜI tạo dựng con người có ba phần: tâm linh, tâm hồn và thể xác. Thể xác để con người tương tác với thế giới vật chất. Tâm hồn để con người giao tiếp với nhau và chia sẻ tri thức và cảm xúc. Còn tâm linh được tạo dựng để con người tương giao với ĐỨC CHÚA TRỜI. Đức Chúa Trời là Thần, nên chỉ thần linh mới có thể giao tiếp với thần linh. Con người chỉ thực sự được hạnh phúc khi có sự thỏa mãn bên trong, khi tâm linh được đầy dẫy sự hiện diện của ĐỨC CHÚA TRỜI và sự tương giao với Ngài. Trong vườn Ê-đen con người được hạnh phúc trọn vẹn bởi con người sống trong mối tương giao đầy trọn với ĐỨC CHÚA TRỜI. Khi đó con người luôn luôn bình an và vui mừng.
Nhưng tội lỗi làm cho con người đánh mất mối tương giao với ĐỨC CHÚA TRỜI. Con người trở thành kẻ thù của ĐỨC CHÚA TRỜI. Trong tâm linh con người xuất hiện một khoảng trống. Khoảng trống này làm cho con người luôn cảm nhận một sự thiếu thốn, một nỗi khát trong tâm linh. Bởi nỗi khát này mà con người cả đời cố gắng, nỗ lực bằng mọi cách để được thỏa mãn. Nước giếng Gia-cốp là những thứ của thế gian mà con người dùng để thỏa mãn cơn khát tâm linh.
Có thể nói nước giếng Gia-cốp phổ biến nhất vào thời đại chúng ta ngày nay là tiền bạc, vật chất. Người ta nghĩ rằng có tiền mua tiên cũng được. Người ta dùng cả cuộc đời để kiếm tiền. Người ta có thể hi sinh tất cả: thời gian, sự sống, gia đình, vợ chồng, con cái, người thân, bạn bè, đạo đức, tình nghĩa… để sở hữu nhiều tiền. Loại nước giếng Gia-cốp phổ biến thứ hai có thể kể đến là tình yêu của người khác giới. Con người tự tạo ra cho mình hình mẫu của một người khác giới hoàn hảo và cả cuộc đời đi tìm kiếm hình mẫu đó.
Nhiều người cố gắng thỏa mãn cơn khát tâm linh của mình bằng quyền thế, địa vị, sự nổi tiếng và vinh quang của thế gian. Người ta cũng cố thỏa mãn cơn khát của mình bằng các vật dụng khác nhau như: Iphone, các thiết bị công nghệ, quần áo, ô-tô…
Những người khác nữa thì tìm đến thuốc phiện, rượu bia, thuốc lá, bài bạc, game… Những người khác thì cố gắng thỏa mãn cơn khát của mình trong tri thức, khoa học. Loại nước giếng Gia-cốp cao cấp hơn là các tôn giáo cùng những nghi lễ nó. Người ta tìm cho mình một tôn giáo phù hợp theo sở thích rồi gia nhập vào đó, thực hiện những nghi lễ, quy tắc của tôn giáo đó như một sự vuốt ve tâm linh nhằm thỏa mãn cơn khát.
Nhưng CHÚA GIÊ-XU phán rằng: Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi. Tất cả những thứ thuộc về thế gian chỉ làm cho con người thỏa mãn cơn khát tức thời. Thực chất là người ta vẫn khát và sự khát đó cứ dai dẳng mãi. Giống như nước biển không thể nào làm dịu cơn khát, thì nước giếng Gia-cốp không bao giờ thỏa mãn được “nỗi khát của tâm linh”.
Chúng ta cùng đọc lại một lần nữa 13-14 [13]Ðức Chúa Jêsus đáp rằng: Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi;[14]nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời.
Trong Giăng 7:37-39 Chúa Jesus giải thích rất rõ rằng Nước hằng sống mà CHÚA GIÊ-XU ban cho chính là ĐỨC THÁNH LINH. Khi chúng ta nghe Lời Chúa, ĐỨC THÁNH LINH hành động và khải thị cho chúng ta nhận biết tình trạng thật của mình là một tội nhân đáng phải chết và ném vào hỏa ngục đời đời. Chúng ta ăn năn và tin nhận CHÚA GIÊ-XU làm CỨU CHÚA của cuộc đời mình. Khi đó mối quan hệ bị gãy đổ giữa chúng ta và ĐỨC CHÚA TRỜI được phục hồi. ĐỨC THÁNH LINH sẽ đến và ngự trị trong tâm linh chúng ta. Chính NGÀI là ĐỨC CHÚA TRỜI toàn năng sẽ ban cho tâm linh chúng ta sự tái sanh, sự sống đời đời. ĐỨC THÁNH LINH giúp chúng ta luôn ở trong mối tương giao đầy trọn với ĐỨC CHÚA TRỜI. Và chính mối tương giao đó làm thỏa mãn cơn khát trong tâm linh chúng ta. Vì vậy chúng ta sẽ chẳng hề khát nữa. Ha-lê-lui-ja!
Chúng ta cùng xem 15-18 [15]Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.[16]Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây.[17]Người đàn bà thưa rằng: Tôi không có chồng. Ðức Chúa Jêsus lại phán: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm;[18]vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy.
Người đàn bà đã có mong muốn và cầu xin CHÚA GIÊ-XU nước hằng sống. Nhưng CHÚA GIÊ-XU bất ngờ đụng chạm đến đời sống riêng của cô ta. NGÀI phán với người đàn bà rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây. Lời CHÚA GIÊ-XU đã cáo trách mạnh mẽ đến tấm lòng người đàn bà. Cô ta nhận được một sự khải thị đến từ trời. Cô ta nhìn thấy tình trạng thật của mình. Cô ta nhận biết mình là một tội nhân. Cô ta trả lời CHÚA GIÊ-XU: Tôi không có chồng. CHÚA GIÊ-XU tiếp tục bằng tình yêu tha thứ nói rõ về tội lỗi của người đàn bà. NGÀI không kết án cô ta, NGÀI chỉ ra tội lỗi để cô ta ăn năn và nhận được sự tha tội. NGÀI phán với người đàn bà: Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng là phải lắm; vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy. Vậy thì nan đề của người đàn bà ở đây là gì?
Trong câu 12: Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy CHÚA há lớn hơn Gia-cốp sao? Người đàn bà nhắc đến Gia-cốp và so sánh CHÚA GIÊ-XU với Gia-cốp. Trong lòng cô thì Gia-cốp là một tiêu chuẩn, một hình mẫu, một thần tượng. Tại sao Gia-cốp lại trở thành thần tượng trong lòng cô ta? Trong sách Sáng Thế Ký chúng ta biết rằng Gia-cốp là một tổ phụ đức tin của dân Do Thái. Ông đã sẵn sàng hi sinh 14 năm tuổi thanh xuân của mình để lấy được người ông yêu là Ra-chên. Vì người con gái mình yêu ông sẵn sàng chịu nắng cháy, lạnh giá, những khó khăn, đói khát… Bởi vậy mà người đàn bà Sa-ma-ri khi còn trẻ cũng như bao cô gái bình thường khác, mơ về một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Cô ta luôn mong ước sẽ tìm và gặp được soái ca của đời mình, người sẽ yêu cô say đắm, ngọt ngào, lãng mạn, sẵn sàng hi sinh mọi thứ vì cô, thậm chí là sẵn sàng chết vì cô. Cô mong muốn được trao thân gửi phận cho một người đàn ông như vậy.
Với ước mơ đó cô gái trẻ Sa-ma-ri đi lấy chồng. Nhưng trước hôn nhân cô ta hi vọng bao nhiêu, vui mừng và hạnh phúc bao nhiêu thì giờ đây cô thất vọng bấy nhiêu khi phát hiện ra rằng người chồng của cô không giống với hình mẫu cô mong muốn. Kết quả cuối cùng của hôn nhân là họ ly dị nhau với những vết thương và đau đớn trong tâm hồn dành cho cả hai. Cứ lần lượt như vậy, người đàn bà Sa-ma-ri đã trải qua hôn nhân với người đàn ông thứ hai, thứ ba, thứ tư rồi thứ năm. Cô cố gắng tìm cho bằng được thần tượng của đời mình qua những cuộc hôn nhân đó. Nhưng sau mỗi cuộc hôn nhân cô lại càng thêm thất vọng, buồn chán và đau đớn. Sau khi cuộc hôn nhân thứ năm tan vỡ, người đàn bà đã quyết định đầu hàng, cô ta bỏ cuộc bởi hiểu ra rằng soái ca chỉ tồn tại trong tiểu thuyết ngôn tình mà thôi, không tồn tại ngoài đời thực. Nhưng giờ đây cô ta đã trở thành nô lệ của tội lỗi tình dục, cô ta không thể sống thiếu đàn ông được. Bởi vậy cô kiếm cho mình một người đàn ông và về sống chung với anh ta không hôn thú, với mục đích chỉ để thỏa mãn ham muốn xác thịt. CHÚA GIÊ-XU phán rằng: Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước TA sẽ cho thì chẳng hề khát nước. Người đàn bà Sa-ma-ri đã cố gắng làm thỏa mãn cơn khát của mình bằng tình yêu luyến ái của con người. Nhưng kết quả cuối cùng cô ta trở thành nô lệ của tội lỗi tình dục và có tiếng lẳng lơ. Bởi vậy cô không thể sống một cuộc sống bình thường như bao người phụ nữ khác.
Chúng ta cùng xem câu 19-20 [19]Người đờn bà thưa rằng: Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri.[20]Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy; còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem.
Sau khi nhận được sự bày tỏ của CHÚA GIÊ-XU, người đàn bà nhìn thấy tình trạng thật của mình. Cô ta nhận biết mình là một tội nhân trước mặt ĐỨC CHÚA TRỜI. Cô ta nhận biết sự khao khát, trống rỗng trong tâm linh của mình. Cô hiểu ra không phải một người đàn ông lý tưởng mà chính ĐỨC CHÚA TRỜI mới là đối tượng thờ lạy của cô. Bởi vậy mà cô ta đã có mong muốn và hỏi CHÚA GIÊ-XU về nơi thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI. Nhưng CHÚA GIÊ-XU không chỉ cho cô nơi thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI mà dạy dỗ cô về lẽ thật của sự thờ phượng.
Chúng ta cùng xem 21-24 [21]Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem.[22]Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến.[23]Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy.[24]Ðức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.
CHÚA GIÊ-XU dạy người đàn bà rằng sự thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI không quan trọng ở đâu mà quan trọng là ở tình trạng tấm lòng. ĐỨC CHÚA TRỜI là thần nên chúng ta không thể thờ phượng NGÀI bằng xác thịt được. Sự thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI không quan trọng ở đâu, khi nào, giá trị vật chất quy ra tiền là bao nhiêu… Chúng ta phải thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI bằng lẽ thật là chân lý trong lời ĐỨC CHÚA TRỜI, bằng tâm thần là tâm linh của chúng ta đã được tái sanh trong CHÚA GIÊ-XU CHRIST.
Qua câu hỏi của người đàn bà, lời CHÚA cho chúng ta biết nan đề gốc rễ trong tâm linh của cô ta là gì? Khi tạo dựng con người, ĐỨC CHÚA TRỜI đã tạo nên trong con người một cái ngai, mà chúng ta thường gọi là “ngai lòng”. Trong vườn Ê-đen ĐỨC CHÚA TRỜI luôn ngự trên ngai lòng của con người, vì vậy nên Ê-đen là thiên đường. Khi bị đuổi khỏi vườn Ê-đen, cái ngai lòng bị bỏ trống. Bởi trong con người có bản năng thờ phượng, nên khi không thờ phượng ĐỨC CHÚA TRỜI thì chắc chắn con người phải tìm cho mình một thần tượng nào đó để thờ phượng, để đặt lên ngai lòng. Thần tượng của người đàn bà Sa-ma-ri là hình mẫu một người đàn ông lý tưởng; người khiến cho cô có thể hiến dâng cả cuộc đời mình. Nhưng trên thế gian này không có người đàn ông lý tưởng. Vì đối tượng thờ phượng sai nên kết quả cuối cùng là người đàn bà Sa-ma-ri trở thành nô lệ của tội lỗi tình dục. Để rồi cô ta đau khổ trong nội tâm, cô day dứt, ân hận, mặc cảm tự ti và không thể nào sống một cuộc đời bình thường được. Cô ta luôn mong muốn được giải thoát khỏi đời sống đó. Nhưng bằng sức của mình cô ta không làm được. Ai giúp cô ta được đây?
Chúng ta cùng xem 25-26 [25]Người đàn bà thưa: Tôi biết rằng Ðấng Mê-si (nghĩa là Ðấng Christ) phải đến; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.[26]Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, Người đang nói với ngươi đây, chính là Ðấng đó.
Vậy là trong sâu thẳm, linh hồn người đàn bà Sa-ma-ri đang trông đợi CHÚA CỨU THẾ. Cô ta mong đợi NGÀI giúp đỡ cô thoát khỏi đời sống đau khổ như vậy. Và khi CHÚA GIÊ-XU phán với cô rằng: “Ta chính là ĐẤNG đó”, thì ngay lập tức người đàn bà Sa-ma-ri đã mở lòng và tiếp nhận CHÚA GIÊ-XU làm CỨU CHÚA của cuộc đời mình. Halellujah! Chỉ có Chúa JESUS xứng đáng trở thành người chồng lý tưởng của cô, chỉ Ngài mới luôn yêu thương cô bằng tình yêu vô điều kiện, quan tâm chăm sóc, an ủi, bồng ẵm và Ngài thậm chí đã hy sinh chính Mình cho cô. Chỉ có Chúa JESUS mới xứng đáng nhận được tất cả tình yêu, sự trong trắng, trái tim của cô. Bởi Chúa JESUS là Cứu Chúa! Amen.
CHÚA GIÊ-XU phán rằng: Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi. Tạ ơn CHÚA vì qua lời NGÀI, tôi nhìn thấy mình là một người đàn ông Sa-ma-ri. Tôi đã sử dụng những vật dụng đắt tiền và tình yêu của người khác giới để cố gắng thỏa mãn cơn khát trong tâm linh của mình.
Sinh ra trong một gia đình thuần nông nghèo, bà và bố mẹ tôi đều là những người nông dân bình thường, ít học; thậm chí bà nội tôi còn viết không thạo. Vì vậy từ khi có nhận thức tôi đã luôn mặc cảm tự ti vì hoàn cảnh gia đình. Tôi luôn cố gắng học thật tốt để sau này có một công việc tốt, có được nhiều tiền và nhờ đó thay đổi được hoàn cảnh gia đình mình. Từ đó trở đi tôi luôn nghĩ rằng giá trị của con người nằm ở việc có nhiều tiền hay không. Tôi cho rằng người ta sẽ nhìn tôi bằng một con mắt khác khi tôi có nhiều tiền hay sở hữu những vật dụng có giá trị. Năm 18 tuổi tôi được gửi sang đây du học. Tôi có một đời sống tự do không phải chịu sự quản lý của gia đình. Tại đây tôi không phải đóng một đồng học phí nào. Được nhà trường nuôi với 3 bữa ăn một ngày miễn phí. Mỗi tháng lại có 380$ tiền sinh hoạt phí được gửi cho tôi 6 tháng một lần. Từ một đứa trẻ hầu như không có đồng nào mỗi khi đi học thì giờ đây mỗi lần tôi được nhận học bổng cả gần 50 triệu.
Bởi tiếp nhận triết lý là sở hữu những vật dụng giá trị sẽ làm cho con người trở nên giá trị hơn. Và cùng với sự yêu thích công nghệ, tôi đã sớm mua cho mình những thiết bị công nghệ đắt tiền. Cách đây 7, 8 năm tôi đã sở hữu 2 chiếc điện thoại trị giá cả 1000 đô, cùng với một chiếc laptop trị giá 1500 đô. Và đó là những thiết bị đời mới nhất. Tôi cho rằng những vật dụng đó sẽ làm cho tôi không còn mặc cảm tự ti nữa, những vật dụng đó sẽ làm tôi thỏa mãn và cảm thấy có giá trị hơn. Nhưng công nghệ phát triển không ngừng. Một thời gian sau những mẫu điện thoại và máy tính mới ra đời đẹp hơn với rất nhiều tính năng mới. Và thế là tôi lại thao thức, mất ăn mất ngủ vì chúng. CHÚA GIÊ-XU phán rằng: phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi. Qua lời CHÚA tôi hiểu rằng sự khát trong tâm linh của tôi không có thể nào giải quyết được bằng tiền bạc, vật chất, hay những vật dụng đắt tiền. Chúng chỉ làm cho tôi thỏa mãn tạm thời để rồi phải phụ thuộc vào chúng, trở thành một kẻ nô lệ không thể sống thiếu chúng. Khi học lời CHÚA, tôi biết được giá trị thật của mình, tôi biết rằng tôi có một giá trị tuyệt đối trước mặt ĐỨC CHÚA TRỜI. Đối với NGÀI thì tôi thật rất tốt lành. Qua lời CHÚA tôi cũng nhận ra tội lỗi của mình và ăn năn. Sau đó tôi mua cho mình những điện thoại bình thường, không quá đắt tiền, nhưng điều kì lạ là tôi cảm thấy thoải mái khi dùng chúng. Tôi không còn sợ sẽ bị mất giá trị nữa, tôi cũng không phải cố gắng hết sức để giữ gìn điện thoại, hay không còn cảm thấy xót ruột khi lỡ làm rơi.
Loại nước giếng Gia-cốp khác mà tôi đã sử dụng để cố gắng thỏa mãn cơn khát tâm linh của mình là tình yêu của người khác giới. Tôi luôn nghĩ rằng tình yêu của một cô gái tuyệt vời sẽ làm cho tôi hạnh phúc. Tôi luôn cố gắng để tìm cho mình một cô gái xứng đáng để tôi trao tất cả tình yêu và cuộc đời của mình, xứng đáng ngồi vào vị trị ngai lòng tôi. Vì tiếp nhận tư tưởng tội lỗi, sai lầm nên tôi đã phạm tội với nhiều cô gái. Khi mới đến Hội Thánh và mới bắt đầu học Kinh Thánh tôi đã có quan hệ tình cảm với một chị em. Gặp và làm quen với nhau ở Hội Thánh, chúng tôi bắt đầu nói chuyện qua tin nhắn trên điện thoại và trên mạng. Qua một thời gian nói chuyện tôi biết được người chị em đó vừa trải qua một sự đổ vỡ lớn trong vấn đề tình cảm. Tôi để cảm xúc lấn áp lý trí và thật ngu xuẩn khi nghĩ rằng tôi có thể bằng tình yêu của mình để chữa lành nỗi đau trong lòng người chị em đó. Chúng tôi bắt đầu nói chuyện qua điện thoại nhiều hơn, nhiều hơn. Nhưng sau một tuần chúng tôi gần như dính chặt với nhau qua cái điện thoại thì người chị em đó biến mất và không còn muốn nói chuyện với tôi nữa. Trống rỗng, hụt hẫng và đau đớn tôi cố gắng đi tìm nguyên nhân. Kết quả là tôi biết được nhiều điều hơn về người chị em đó và chuyện tình cảm trẻ trâu của chúng tôi chấm dứt trong sự tổn thương và đau đớn. Kết quả cuối cùng cái mà tôi nhận được sau mối quan hệ tình cảm đó chỉ là sự đau đớn, tổn thương, trống rỗng và chán nản. Bởi tôi đã đặt sai đối tượng thờ phượng vào trong ngai lòng của mình.
Sau đó một thời gian tôi về Việt Nam với bao nhiêu nhiệt huyết và sự mạnh mẽ của đức tin để hầu việc CHÚA, làm chứng cho gia đình và những người xung quanh. Nhưng ở Việt Nam không lâu, tôi đánh mất lửa khi có mối quan hệ tình cảm với một chị em khác do làm theo ý riêng và chạy theo cảm xúc của mình. Qua gia đình giới thiệu, tôi biết người chị em này. Tôi đã làm chứng cho cô ấy và học Kinh Thánh qua mạng với cô ấy. Ban đầu động cơ của tôi trong sáng là hầu việc CHÚA. Nhưng khi gia đình vạch ra cho tôi những kế hoạch riêng về một tương lai, một cuộc hôn nhân với người chị em này thì tôi cũng bắt đầu những toan tính của riêng mình. Tôi làm theo ý riêng và cảm xúc của mình để rồi tự vạch ra cho mình một kế hoạch riêng cho tương lai. Tôi đã từng nghĩ rằng đây chắc chắn là người vợ CHÚA chọn cho mình rồi, chúng tôi chắc chắn sẽ có một gia đình hạnh phúc và cùng hầu việc CHÚA. Nhưng sau khi tôi quay trở lại Ukraina được hơn một năm thì mối quan hệ tình cảm của chúng tôi đổ vỡ. Kết quả mà chúng tôi nhận được chỉ là sự đau đớn và tổn thương cho cả hai. Tôi nhớ rằng thời gian đó thật khủng khiếp với tôi. Có thể nói là cả một bầu trời sụp đổ dưới chân tôi. Tôi trải qua sự đau đớn mà từ khi sinh ra đến nay chưa bao giờ tôi phải trải qua. Tôi khóc lóc và vật vã trong đau đớn. Tôi biện luận với CHÚA rằng tại sao lại như vậy? Tôi không muốn đi học Kinh Thánh và thờ phượng CHÚA. Tôi oán hận người này người kia và cho rằng họ phải chịu trách nhiệm về chuyện này. Tôi đã từng suy nghĩ sẽ trả thù cô ấy và mẹ cô, tôi sẽ cho họ phải hối tiếc vì những đau đớn họ đã gây ra cho tôi. Tôi không dám kể chuyện này với Mục Sư của mình hay với ai. Tôi chỉ biết khóc lóc và tìm sự an ủi ở những người thân của mình là bà nội, mẹ, bạn thân và em trai. Tôi thực sự tạ ơn CHÚA vì bạn thân của tôi. Thay vì an ủi tôi bằng tình yêu của con người, bạn tôi đã giúp tôi bằng tình yêu của CHÚA. Và qua bạn tôi, CHÚA mang đến cho tôi cuốn sách “Mồi của sa-tan” là thông điệp mà CHÚA dành cho tôi khi đó. Tôi nhận được rất nhiều ân điển qua cuốn sách này. Tôi tiếp tục đọc những cuốn sách khác về sự tổn thương, tình yêu thương và tha thứ. Tôi nhớ trong vòng 1 tuần tôi đã đọc 5 hay 6 cuốn sách gì đó. Có lẽ đó là thời gian mà tôi đọc nhiều sách nhất từ trước tới nay. Tạ ơn CHÚA vì NGÀI giúp tôi nhận ra tội lỗi của mình, để ăn năn và nhận được sự tha tội. NGÀI giúp tôi tha thứ và chiến thắng sự tổn thương.
Nhưng tôi không để CHÚA GIÊ-XU làm Chủ đời sống mình mà tự mình làm chủ nên cách đây một năm tôi lại vướng vào tội lỗi một lần nữa với mối quan hệ tình cảm với một chị em khác. Tôi đã làm theo cảm xúc của riêng mình mà cám dỗ và gây vấp phạm cho người chị em này. Tôi muốn đặt mình vào ngai lòng và trở thành chủ đời sống của cô ấy. Tạ ơn CHÚA vì qua Mục Sư của tôi, NGÀI đã giúp tôi nhìn thấy tội lỗi của mình để ăn năn. Qua hội nghị Kinh Thánh Phục Sinh vừa qua tôi hiểu rằng con người cũ trong tôi vẫn chưa thực sự chết. Trong tôi cái tôi vẫn làm chủ, tôi vẫn tự kiểm soát đời sống mình. Tôi cố gắng hầu việc CHÚA bằng sức của mình nên tôi thường cảm thấy mệt mỏi và hay bỏ cuộc. Tôi ăn năn và quyết định đạp đổ thần tượng cái tôi trong ngai lòng tôi và mời CHÚA GIÊ-XU phục sinh làm Vua, làm Chủ đời sống tôi. Tôi quyết đinh trao phó tương lai và hôn nhân của tôi cho CHÚA, tôi sẽ hầu việc CHÚA và chờ đợi người giúp đỡ đến từ CHÚA. A-men!
Tạ ơn CHÚA vì lời NGÀI về nước hằng sống. Qua lời CHÚA tôi nhận biết tôi là một người đàn ông Sa-ma-ri. Trong tôi có sự khát tâm linh chỉ có thể làm đầy bằng nước hằng sống của CHÚA GIÊ-XU. Nhưng tôi đã cố gắng làm thỏa mãn cơn khát của mình bằng những thứ nước giếng Gia-cốp khác nhau. Kết quả đem lại chỉ là tội lỗi, day dứt, chán nản và tự phán xét chính mình. CHÚA GIÊ-XU phán rằng: Phàm ai uống nước này vẫn còn khát mãi, nhưng ai uống nước TA sẽ cho thì chẳng hề khát nữa, nước TA cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời. Tôi quyết định tiếp nhận nước hằng sống của CHÚA GIÊ-XU cho cơn khát trong tâm linh của mình.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.