CHÚA GIÊ-XU CÓ QUYỀN NĂNG BIẾN ĐỔI TẤT CẢ (Giăng 2:1-11)

Chương trình Alpha. Bài 9

CHÚA GIÊ-XU CÓ QUYỀN NĂNG BIẾN ĐỔI TẤT CẢ

Giăng 2:1-11

Câu khoá 2:11

Trong các tuần vừa qua chúng ta đã học loạt bài sáng thế ký từ chương 1-7. Chương 1 cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng tạo hóa, là nguồn gốc của mọi sự, và cũng cho chúng ta biết được bản chất, sứ mệnh giá trị của con người. Chương 2 cho chúng ta biết niềm hạnh phúc thật của con người là tương giao với Đức Chúa Trời, là sống đúng với mục đích được tạo dựng. Chương 3 cho chúng ta biết về nguồn gốc của tội lỗi và sự chết. chương 6-7 nói về sự phát triển của tội lỗi và sự trừng phạt tuyệt đối của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi.

Hôm nay chúng ta sẽ học về Giăng 2 kể về một đám cưới ở Ca-na. bài học này cho chúng ta biết Chúa Jesus là ai và mục đích Ngài đến thế gian để làm gì. Tôi cầu xin Đức Chúa Trời giúp chúng ta tiếp nhận Chúa Jesus và quyền năng biến đổi của Ngài trên đời sống của mỗi chúng ta, để đời sống của chúng ta được biến đổi từ nước lã thành rượu vang.

Chúng ta cùng xem câu 1-2 “Cách ba ngày sau, có đám cưới tại thành Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, và mẹ Đức Chúa Jêsus có tại đó. 2 Đức Chúa Jêsus cũng được mời đến dự đám với môn đồ Ngài.

Ca-na là thành phố cách Naxaret khoảng 7 km. Vùng đất này hiện nay phát triển rất tốt truyền thống làm rượu nho. Bởi sự nổi tiếng của câu chuyện biến nước thành rượu thế nên khách du lịch đến đây thường mua rượu nho của vùng này về làm kỷ niệm.

Chúng ta có thể thấy đây là đám cưới của 1 người họ hàng thân thuộc, trong vòng bà con của bà Ma-ri. Chúa Jesus và các môn đệ Ngài cũng được mời đến dự, tại đám cưới này Chúa đã thi hành phép lạ đầu tiên của Ngài trên đất. Việc Chúa Jesus đến dự và làm phép lạ đầu tiên trong đám cưới có 1 ý nghĩa thuộc linh quan trọng. Kinh Thánh thường dùng rất nhiều ẩn dụ của đám cưới để nói về Cơ đốc giáo. Đám cưới được so sánh với đời sống của Cơ đốc nhân.

Vậy thì đám cưới là gì?

  • Đám cưới là 1 ngày lễ hội của tình yêu. Khi tình yêu đã đến độ chín mùi, thì hai người đi đến một quyết định rằng họ không thể sống thiếu nhau họ muốn ở bên nhau trọn đời. Đám cưới là ngày kỷ niệm cho quyết định đó. Đám cưới là giao ước của sự chung thủy trong tình yêu. Đám cưới giống như mối quan hệ giữa Cơ đốc nhân với Chúa Jesus: Chúa Jesus yêu chúng ta và chúng ta cũng hứa nguyện chung thủy với tình yêu của Ngài.
  • Đám cưới là mốc để bắt đầu cuộc sống mới. Đi với Chúa Jesus chúng ta không còn sống đời sống cũ nữa.
  • Không khí ở đám cưới là không khí nhộn nhịp, hào hứng, vui mừng, phấn khởi. Cũng vậy đời sống Cơ đốc nhân không phải đời sống nhạt nhẽo, vô vị, nhàm chán, hay là một đời sống tu hành, khổ hạnh. Nhưng là đời sống hào hứng, vui mừng trong Chúa Jesus.

Chúng ta cùng xem câu 3 “Vừa khi thiếu rượu, mẹ Đức Chúa Jêsus nói với Ngài rằng: Người ta không có rượu nữa.”

Vì đám cưới là một cái mốc quan trọng trong cuộc đời, vì vậy thời đó để để tổ chức đám cưới người ta phải chuẩn bị từ trước đó rất lâu. Họ phải dự trù lượng khách để ủ rượu, nuôi gia súc, gia cầm để lấy thịt. Rượu được ủ từ nho để cho lên men, rượu nho thời đó không như rượu vod-ka 42 độ ngày nay, nó chỉ đủ để làm người ta hưng phấn, thế nên trong đám cưới rượu là thứ không thể thiếu, và thiếu rượu là điều tối kỵ. Nhưng trong đám cưới này khách khứa có vẻ đông vượt quá ngưỡng dự trù của gia chủ, vì thế nên thiếu rượu. Mà đối với họ đám cưới mà thiếu rượu thì không còn là đám cưới. Nó là một nan đề rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của gia chủ. sau đám cưới những lời đàm tiếu dèm chê có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân của đôi vợ chồng trẻ sau này.

Qua tấm gương của bà Ma-ri cho chúng ta học được ở bà 2 điều: 1/ tinh thần làm chủ, có trách nhiệm. 2/ sự cầu nguyện với đức tin.

Bà Ma-ri tuy không phải là chủ, nhưng lại phát hiện ra nan đề. Đối với tôi nếu rơi vào trường hợp như bà Ma-ri chắc tôi sẽ nghĩ: “thôi kệ họ, đây đâu phải việc của mình, coi như không biết cho đỡ phiền phức.” Người việt mình thường nói: “ôm rơm rặm bụng”, “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”, “ốc không mang nỗi mình ốc, còn mang cọc cho rêu” Nhưng bà Ma-ri với tinh thần làm chủ tiếp nhận như nan đề của chính bà và tìm cách để giải quyết.

Tại sao chúng ta cần có tinh thần làm chủ?

Người có tinh thần làm chủ là người có trách nhiệm với bản thân và với những người xung quanh, không chỉ biết đến lợi ích cho mình nhưng biết quan tâm đến lợi ích của người khác, của lợi ích chung, luôn biết nhận trách nhiệm về mình. Với đức tính này họ sẽ là những người thành công và có ảnh hưởng.

Ngược lại với tinh thần làm chủ có thể gọi là là tinh thần cá nhân, thoái thác vô trách nhiệm. Vừa qua có một bức thư của người Nhật gửi người Việt Nam gây dậy sóng cư dân mạng. một đoạn trong bức thư viết “Nói Việt Nam là một “nhà giàu”, quả là không ngoa. Giàu tài nguyên, giàu truyền thống, giàu văn hóa… Nhưng con cháu của nhà giàu, sẽ phải đối mặt với những vấn đề nan giải của nhà giàu. Và không phải ai cũng biết cách sống có trách nhiệm trong sự giàu có ấy.

Thật đáng tự hào nếu bạn được lớn lên ở một đất nước được thiên nhiên ưu đãi với rừng vàng biển bạc. Đáng xấu hổ nếu xem đó là khoản thừa kế kếch xù, không bao giờ cạn. Thật tiếc đó lại là những gì tôi thấy. Tại các thành phố, chỉ cần nhà mình sạch sẽ là được, ngoài phạm vi ngôi nhà, bẩn đến đâu, không ai quan tâm. Ở các nhà máy, nếu không biết dồn rác thải ở đâu, họ sẽ cho chúng ra ngoài đường, sông suối, biển cả vì đó là “tài sản quốc gia” – đã có quốc gia lo, không phải việc của mỗi người dân. Tại một đất nước mà 80% dân số sống bằng nghề nông, đất đai, nước ngầm hầu như đã bị nhiễm độc, đến nỗi, người ta nói vui trong năm nữa thôi sẽ là thời đại của ung thư vì ăn gì cũng độc, không ít thì nhiều, không thể khác. Vì sao nên nỗi?

Tôi chưa từng thấy đất nước nào mà các bậc mẹ cha dạy dỗ con cháu cố gắng học hành để sau này là bác sỹ, phi công, thuyền trưởng… mà xuất phát không phải vì đam mê mà vì phong bì nhiều, đút lót dễ, giàu sang mấy hồi… Vì đâu nên nỗi?

Tinh thần vô trách nhiệm là một trong những nguyên nhân tạo nên xã hội Việt Nam chúng ta ngày nay. Một xã hội vô cảm. tất cả đều chỉ vì lợi ích bản thân thậm chí chà đạp lên sức khỏe và tính mạng của người khác. Vì vậy xã hội của chúng ta rất cần những con người có tinh thần làm chủ.

Hội Thánh của Chúa rất cần những người đàn ông và đàn bà có tình thần làm chủ. Chúa cần những con người luôn luôn suy nghĩ và nói: “đây là Hội Thánh của tôi, đây là trách nhiệm của tôi, Đây là dân tộc của tôi, Hội thánh là nhà của tôi, là gia đình của tôi”… Đức Chúa Trời sẽ ban phước đầy dẫy cho những người như vậy. Chúng ta ở đây không phải là khách bởi vì khách chỉ đến ngồi chơi và xơi nước, sau đó thì chỉ trích và phán xét. Nhưng tất cả chúng ta ở đây đều là chủ. Chúng ta cùng nhau tuyên xưng: đây là Hội thánh của tôi. Đây là gia đình thuộc linh của tôi, ở đây tôi là chủ. Amen!

Điều thứ hai chúng ta học được qua tấm gương của bà Ma-ri là sự cầu nguyện với đức tin. Ngày nay nếu thiếu rượu chúng ta chỉ cần ra cửa hàng và giải quyết nó trong vòng 5 phút. Nhưng vào thời đó thiếu rượu là một nan đề lớn và không thể giải quyết được bằng sức người. Rượu phải trải qua quá trình lên men. Vì thế nên muốn có ngay lập tức là 1 điều không tưởng. Chúng ta thấy khi gặp nan đề khó khăn, bà Ma-ri không nhảy chồm chồm lên, không gọi điện thoại cho hết người này đến người khác, tim bà không đập loạn nhịp như thể trời sắp sập. Cách giải quyết của bà, bà rất bình tỉnh và đem nan đề nói với Chúa Jesus. Điều đó cho thấy bà tin chỉ duy nhất Chúa Jesus giải quyết được nan đề này, chứng tỏ bà biết Chúa Jesus thực sự là ai.

Chúng ta cùng xem câu 4 “Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.”

Câu trả lời của Chúa Jesus thoạt nghe như một sự từ chối. Nếu nhìn từ góc độ Chúa Jesus là một người con thì câu trả lời của Ngài nghe có vẻ hỗn láo. Nhưng câu trả lời ở đây cho chúng ta biết Ngài trả lời với địa vị là Đức Chúa Trời đối với con người.

“giờ ta chưa đến” ở đây nói về thời kỳ. Có tồn tại 2 khái niệm về thời gian:

Thứ nhất là thời gian của con người. Thời gian của con người thường là phải ngay lập tức: khi gặp nan đề, khó khăn chúng ta cầu nguyện và muốn Chúa trả lời, để nan đề được giải quyết ngay và luôn. Thường chúng ta hay cầu nguyện với Chúa: Chúa ơi con cần tiền ngay bây giờ, Chúa ơi con thấy mình nhiều tuổi rồi con cần lấy vợ ngay bây giờ, Chúa ơi con muốn con người này thay đổi ngay bây giờ… và khi chưa thấy chuyện gì xảy ra chúng ta nghi ngờ về Đức Chúa Trời. Nhưng Kinh Thánh cho chúng ta biết nếu chúng ta cầu nguyện đúng mà vẫn chưa có chuyện gì xảy ra, nghĩa là Chúa đang trả lời với chúng ta rằng “giờ ta chưa đến”.

“Giờ Ta” là thời gian của Đức Chúa Trời, là thời gian theo kế hoạch và lời của Ngài, vào thời điểm mà theo kế hoạch đó là tốt nhất. Trong truyền đạo 3:11 “Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó.” Thời gian của Đức Chúa Trời đòi hỏi ở chúng ta đức tin, chịu đựng, hy vọng.. Đức tin là chờ đợi “giờ của Chúa”.

Chúng ta cùng xem câu 5 “Mẹ Ngài nói với những kẻ hầu bàn rằng: Người biểu chi, hãy vâng theo cả.”

Câu Kinh thánh này cho chúng ta biết vai trò, chức năng của những người hầu việc Chúa là chuẩn bị cho những con chiên tinh thần sẵn sàng vâng phục Chúa.

Chúng ta cùng xem tiếp câu 7-8 Đức Chúa Jêsus biểu họ rằng: Hãy đổ nước đầy những ché nầy; thì họ đổ đầy tới miệng. 8 Ngài bèn phán rằng: Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc. Họ bèn đem cho

Chúa Jesus phán và họ làm theo, chỉ tóm gọn trong 2 câu Kinh thánh tưởng chừng như đơn giản, nhưng thực tế để vâng phục Chúa họ phải trải qua cả 1 quá trình đấu tranh nội tâm, Và những khó khăn họ phải vượt qua.

+ Khó khăn thứ nhất: logic của lý trí. ché đá đựng nước là dùng để rửa sạch. Người do thái có 1 phong tục truyền thống trước khi vào nhà gia chủ họ phải rửa tay, rửa mặt điều đó mang một ý nghĩa rằng đã rửa sạch những điều gian ác tà ý, và bước vào nhà với một tấm lòng trong sạch. Vào thời điểm hết rượu, ché đá đựng nước không còn cần dùng đến nữa, vì khách khứa đã đến đông đủ và đã vào tiệc. Thế nhưng Chúa phán họ phải đổ đầy 6 cái ché đá. nếu theo logic của lí trí thì đây là 1 hành động thừa hay là hành động ngớ ngẩn.

+ khó khăn thứ hai: muốn lấy được nước phải vất vả bởi ở xứ Do thái giếng thường rất sâu. Mỗi 1 ché đá khoảng 120l nước, để kéo được nước lên và làm đầy 6 ché đá tốn rất nhiều công sức và thời gian. Nhưng họ không biết múc nước lên để làm gì.

+ khó khăn thứ 3. Trong đám cưới Chúa Jesus chỉ là một khách mời, và những người hầu tiệc chỉ nằm dưới quyền của những người coi tiệc. Công việc của những người này là hầu tiệc là bưng bê phuc vụ trong đám cưới, chứ không phải là những người múc nước. họ có quyền từ chối Chúa Jesus bởi vì Ngài không phải là gia chủ chỉ chủ mới là người có quyền ra lệnh cho họ chứ không phải là Chúa Jesus. Thế nhưng họ bỏ qua hết mọi sự để ra làm theo Chúa Jesus.

+ khó khăn thứ 4. đã thế sau khi đổ đầy các ché đá Chúa Jesus còn phán họ phải đem ra cho mọi người uống, nhìn bằng sự tỉnh táo của lý trí đây là điều hết sức khó khăn. tiệc đang thiếu rượu nhưng họ lại đem nước lã ra cho người quản tiệc. Là hành động khinh thường xấc xược. Thế nhưng họ vẫn vâng phục Chúa. Để vâng phục được phải đấu tranh nội tâm rất kinh khủng. họ bỏ qua hết sự tỉnh táo của lý trí. Đây chính là hành động của đức tin

Đức tin là vậy đức tin là vượt qua những suy nghĩ của lý trí, của trí thông minh, của sự hiểu biết, của hoàn cảnh để làm theo và vâng phục lời Chúa.

Chúng ta cùng xem câu 9,10 Lúc kẻ coi tiệc nếm nước đã biến thành rượu (vả, người không biết rượu nầy đến bởi đâu, còn những kẻ hầu bàn có múc nước thì biết rõ), bèn gọi chàng rể, 10 mà nói rằng: Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa. Còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.

Quản tiệc là một cái nghề trong đám cưới. vì thế người quản tiệc rất sành về rượu, khi nếm rượu ông ta rất ngạc nhiên, rượu mà Chúa Jesus làm ra từ nước lã có chất lượng tuyệt vời. nên ông gọi chú rể ra để khen và nói đùa: “tôi có thâm niên làm quản tiệc bao năm rồi, mọi người đều đãi rượu ngon trước, khi quan khách lưỡi tê rồi thì đem rượu đểu ra và chưa có ngoại lệ. còn chú em có tư cách rất là khá. Thật sự là soái ca”

Sự vâng phục lời của Đức Chúa Trời sản sinh ra phép lạ. và những người xung quanh sẽ được khích lệ, phấn khởi. Khi chúng ta nhìn vào lịch sử của thế giới, lịch sử của thế giới luôn thay đổi bởi lịch sử của hội thánh, mà lịch sử hội thánh thay đổi bởi 1 vài con người biết vâng phục lời Đức Chúa Trời. qua những người đó những cuộc phấn hưng xảy ra và ảnh hưởng đến toàn xã hội.

Chúng ta cùng đọc câu 11 “Ấy là tại Ca-na, trong xứ Ga-li-lê, mà Đức Chúa Jêsus làm phép lạ thứ nhất, và tỏ bày sự vinh hiển của mình như vậy; môn đồ bèn tin Ngài.”

Qua đây cho chúng ta biết phép lạ thứ nhất mà Chúa Jesus làm là biến nước thành rượu trong xứ Ca-na. phép lạ thứ nhất có một ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì nó giới thiệu cho chúng ta về bản chất và công việc của Chúa Jesus.

Trong ngữ cảnh cụ thể của đám cưới thì nước là thứ không màu, không mùi, không vị, nước không có giá trị, vô ích và không cần thiết trong đám cưới. còn rượu là thứ có mùi vị màu sắc đem đến niềm vui, hứng khởi. Phép lạ đầu tiên của Chúa Jesus trên đất là một ẩn dụ cho mục vụ của Ngài: Chúa Jesus đến để cứu và biến đổi đời sống của chúng ta từ 1 cuộc đời vô vị nhạt nhẽo, lầm lạc, tăm tối đến một đời sống đầy hương vị, đầy niềm vui, đầy thi vị, đầy ý nghĩa và có mục đích thật. Đời sống của chúng ta trước khi gặp Chúa Jesus giống như nước lã, và Chúa Jesus đến để biến nó thành rượu vang.

Câu “tỏ bày vinh hiển của mình” có nghĩa Chúa Jesus bầy tỏ Ngài chính là Đấng tạo hóa, là Đức Chúa Trời toàn năng. Chỉ có Đấng tạo hóa toàn năng mới có quyền năng biến H2O thành C2H5OH.

Chúa Jesus muốn thay đổi đời sống của chúng ta, và không chỉ muốn mà Ngài có quyền năng biến đổi đời sống Chúng Ta, vì Ngài chính là Đức Chúa Trời giáng thế. Bí quyết để đời sống của chúng ta từ nước lã biến thành rượu vang đó là vâng phục và làm theo lời Chúa 1 cách tuyệt đối. Amen!

Trước đây khi chưa biết đến Chúa Jesus. Tôi nhận biết đời sống của mình là nước lã nhạt nhẽo và vô vị. tôi nhìn thấy xung quanh tất cả mọi người đều sống trong một vòng tuần hoàn vô nghĩa sinh ra lớn lên, sau đó lấy vợ lấy chồng rồi sinh con đẻ cái rồi về hưu già rồi chết, một đời sống luẩn quẩn nhàm chán và kết thúc là cái chết, và tôi nghĩ chết là hết thế nên tôi cố biến đời sống của mình từ nước lã thành có mùi vị và mầu sắc để chết nó mới đáng. Bằng cách sống phải biết hưởng thụ, phải trải nghiệm hết những sự sung sướng của xác thịt, thì cuộc sống mới có giá trị không bị lãng phí. Tôi tập tành hút thuốc uống rượu khi mới 15 tuổi sau đó 1 năm nâng lên tầm cao mới, để được cảm giác lên tiên tôi sử dụng đến em “nàng tiên trắng” là ma túy. Sau đó là một đời sống lưu manh trộm cướp. Từ nước lã đời sống của tôi biến thành nước cống rãnh có mầu đen xỉn và bốc mùi hẳn hoi.

Năm 2010 tôi xuống Odesa, tôi gặp được Chúa, dần dần qua lời của Ngài tôi được giải thoát khỏi đời sống tội lỗi sai lệch, nô lệ, nghiện ngập mà trước đây tôi đã từng cho rằng cuộc sống  nếu thiếu những thứ đó là 1 cuộc sống vô nghĩa. Lời của CHÚA  là quyền năng khi Ngài mở con mắt thuộc linh cho tôi nhận biết được chân lý. Điều đầu tiên lời Chúa cho tôi nhận biết được chết chưa phải hết. Còn có 2 nơi trong cõi đời đời chờ đợi phía sau cái chết là thiên đàng và hỏa ngục, và tôi phải chọn lựa khi còn trên đất. Tôi lựa chọn thiên đàng nghĩa là bước theo Chúa Jesus. Bước theo Chúa Jesus tôi không còn sống đời sống cũ nữa. lời Ngài hành động trong tôi đem đến động lực quyền năng thay đổi tôi. Tôi ko còn sống như trước kia, tôi ko còn hút thuốc tôi ko còn rượu bia, ko còn ham hố những chất kích thích đem đến cảm giác ảo nữa. tôi thấy Cuộc sống thay đổi, tư duy được thay đổi, suy nghĩ tích cực hơn tôi cảm thấy cụôc sống có ý nghĩa hơn khi hiểu được rằng cuộc sống của tôi có giá trị trước Chúa.

Cảm tạ ơn Chúa vì NGÀI biến đổi đời sống tôi từ nước lã thành rượu vang. Từ đời sống tối tăm lầm lạc sang đời sống hào hứng có ý nghĩa có mục đích trong Chúa Jesus. Amen!

Be the first to comment

Leave a Reply