CHÚA JESUS LÀ ĐẤNG CHỮA LÀNH LINH HỒN (Giăng 5:1-17,24,25)

Giăng 5:1-17,24,25

Câu khóa 5:6

Bối cảnh trong phân đoạn kinh thánh Giăng chương 5: 1-17 kể về 1 người bị bệnh bại liệt 38 năm đã được chữa lành ngay lập tức khi ông ta nghe Lời của Chúa JESUS: “Ngươi có muốn lành chăng?”

Ngày nay có nhiều người sống trong sự tuyệt vọng, Chúa JESUS đến để ban cho họ một cuộc đời mới. Cầu xin Chúa ban cho chúng ta hôm nay nghe thấy tiếng phán của Ngài: “Ngươi có muốn lành chăng?… Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.” Amen.

Chúng ta cùng xem câu 1-4 1 Kế đó, có một ngày lễ của dân Giu-đa, Đức Chúa Jêsus lên thành Giê-ru-sa-lem. 2 Số là, tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa. 3 Những kẻ đau ốm, mù quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, [chờ khi nước động; 4 vì một thiên sứ thỉnh thoảng giáng xuống trong ao, làm cho nước động; lúc nước đã động rồi, ai xuống ao trước hết, bất kỳ mắc bịnh gì, cũng được lành].

Bê-tết-đa trong tiếng Do-thái nghĩa là “ngôi nhà của sự nhân từ”. Ở đây rất đông những người đau ốm, bệnh tật. Thường thì khi bị bệnh người ta tìm bác sỹ, thuốc men để chữa bệnh. Chỉ khi nào người bệnh hết thuốc chữa, thì họ tìm đến ao Bê-tết-đa với hy vọng cuối cùng.

Với tình trạng bệnh tật không thuốc chữa, nên những con người nơi đây sống trong sự tối tăm, bi quan, chán nản, tuyệt vọng. Họ nằm dưới quyền lực tăm tối của số phận: “số tôi như vậy”, và không còn ý chí vươn lên, họ buông xuôi. Họ luôn ca thán, than thân trách phận rằng tại sao cuộc đời không công bằng với tôi, rằng số phận áp đặt cuộc đời tôi như vậy… Có tiếng ai oán, có tiếng khóc than. Không khí tối tăm luôn bao trùm nơi đây.

Nan đề chính yếu của xã hội Bê-tết-đa là sự tuyệt vọng, không lối thoát. Tất cả đều trông chờ 1 điều duy nhất là nước động nhờ thiên sứ. Nước động không có một quy tắc nào cả, mà lại không thường xuyên, trong câu 4 có dùng từ “thỉnh thoảng”, có nghĩa là rất lâu mới có một lần.  Nước động không biết lúc nào là một sự hy vong ăn may một cách mong manh, nên sự trông chờ mong manh này càng làm cho sự tuyệt vọng trở nên lớn hơn. Mỗi lần nước động chỉ 1 người được chữa lành, thế nên tinh thần cạnh tranh rất khủng khiếp, ai cũng mong mình được chữa lành, ai cũng vì lợi ích của bản thân, ganh tỵ với những người được chữa lành. Thế nên mới có người bại nằm đó 38 năm không ai giúp đỡ.

Trong ao Bê-tết-đa người ta cũng rất nhân đạo với nhau, họ cũng biết lắng nghe những câu chuyện buồn đau thương của nhau, họ cũng an ủi nhau, giúp nhau đi đổ bô. Nhưng sự trớ trêu và giới hạn của lòng nhân đạo xuất hiện khi nước động. Lúc đó thì mạnh ai nấy được. Bê-tết-đa là một bức tranh thu nhỏ của xã hội loài người. Bê-tết-đa là một xã hội bệnh hoạn. Một xã hội không có tình yêu thương thật, không có sự hy sinh mình. Một xã hội tuyệt vọng, không có lối thoát, vì miếng cơm manh áo vì lợi ích của bản thân đã làm cho con người luôn đấu tranh giành giật, ganh ghét tranh cạnh, chà đạp lên nhau… Tất cả bởi sự tuyệt vọng và sợ hãi. Bê-tết-đa không phải là một cái gì quá xa lạ với chúng ta. Tất cả chúng ta thực ra đang sống trong Bê-tết-đa. Chúng ta cũng ích kỷ, đố kỵ, nhưng bên ngoài thì tỏ ra rất nhân đạo, tỏ ra mình là người tốt. Chúng ta luôn cạnh tranh, sợ mình thua thiệt. Nếu ai đó đụng đến miếng ăn của mình, thì chúng ta có thể lồng lộn lên. Chúng ta nỗ lực để rồi rơi vào hố sâu của sự tuyệt vọng, bi quan, chán nản, số phận,… Chúng ta cần phải thoát khỏi tinh thần của xã hội Bê-tết-đa.

Chúng ta cùng xem câu 5 “Nơi đó, có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm.” Trong ao Bê-tết-đa có một bệnh nhân đặc biệt: ông ta nằm đây đã 38 năm. Rất nhiều người trong chúng ta còn chưa sống được ngần ấy năm so với thâm niên nằm chờ của ông trong Bê-tết-đa. Ông là người không may mắn nhất trong số những người không may mắn, ông là một con người thất bại “bền vững”. Cái “dớp” của sự không may mắn và thất bại đeo đuổi ông đã 38 năm rồi. Ông đã đánh mất mọi hy vọng được chữa lành. Từ “cuộc đời mới, khởi đầu mới” rất xa lạ và khó hiểu đối với ông. Giờ đây chúng ta vẫn thấy ông ở Bê-tết-đa, bởi vì Bê-tết-đa đã trở thành lối sống, phong cách sống, ý nghĩa sống của ông. Ngoài ra ông không biết và không thể tưởng tượng ra một cách sống khác. Bê-tết-đa chiếm hữu toàn bộ tư tưởng, đời sống ông. Ông đã quen thuộc với Bê-tết-đa, đến mức mà ông ở đây không phải để chữa lành nữa.

Chúng ta cùng xem câu 6 “Đức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày thì phán: Ngươi có muốn lành chăng?”

Ở trong câu này có 1 động từ bị ẩn đi, đó là Chúa Jesus đã đi đến với người bại. Người ta sẽ không đến với một con người như vậy, người ta chỉ tìm đến với những người có cùng đẳng cấp. Chúa JESUS đã thương xót một linh hồn. Động từ “thấy người nằm và biết rằng” cho chúng ta biết Chúa JESUS nhìn thấy tâm hồn của người bệnh, Ngài thấy những sự đau đớn, cô đơn, thống khổ của ông. Chúng ta có thể nghĩ, cứu chữa người này làm gì, vô ích, ông ta chỉ là một gánh nặng thừa cho xã hội. Chúng ta có thể đi qua mà không để ý đến. Nhưng Chúa JESUS quan tâm đến một linh hồn bị hư mất. Ngài đã đến gần, yêu thương và quan tâm, Ngài nhìn và hiểu nan đề nội tâm của người bệnh, Ngài xót xa và thông cảm. Đó là ân điển. Cũng vậy, Chúa JESUS biết tình trạng của mỗi chúng ta, biết những đau đớn, buồn phiền, và nhu cầu trong đời sống chúng ta.

Chúa JESUS đã hỏi người bệnh một câu hỏi kỳ lạ “Ngươi có muốn lành chăng?” Giống như hỏi một người đang đói “anh có muốn ăn không?” Nhưng câu hỏi này có những mục đích như sau:

1/ để anh ta nhận thức được tình trạng thật của mình. Có thể sau 38 năm nằm ở ao Bê-tết-đa, anh ta đã quên mục đích ban đầu mình đến đây để làm gì. Anh ta có thể đã quen với tình trạng bệnh tật của mình đến nỗi cho rằng đó là việc bình thường. Câu hỏi “Ngươi có muốn lành chăng?” giúp cho anh ta nhớ lại và nhận thức được tình trạng bệnh tật của mình, và từ đó nhận thức rằng anh ta cần phải được chữa trị.

2/ ban cho anh ta mong muốn chữa lành, ban cho anh ta ý niệm rằng anh ta có thể sống một đời sống mới. Khi chúng ta sống lâu trong một thói quen xấu hay tội lỗi nào đó, dần dần chúng ta cảm thấy quen và chấp nhận nó, cho rằng nó bình thường mặc dù điều đó không đúng. Chúng ta cần phải nhận thức ra căn bệnh tâm hồn của mình, chúng ta cần được chữa lành.

3/ làm sống lại niềm hy vọng đã lụi tàn sau 38 năm thất bại. Chúa JESUS là ĐỨC CHÚA TRỜI của hy vọng. Chúa JESUS hỏi: “Ngươi có muốn lành chăng?” Đây là tiếng phán của ĐỨC CHÚA TRỜI toàn năng, ĐỨC CHÚA TRỜI của tình yêu thương, của hy vọng. Lời của Ngài đem đến đức tin: tôi có thể được chữa lành, tôi có thể sống một cuộc đời mới. Hallelujah!

Chúng ta cùng xem câu 7-9 7 Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi. 8 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi. 9 Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và đi. Vả, bấy giờ là ngày Sa-bát.

Người bại thay vì  trả lời, “Chúa ơi, con xin Chúa chữa lành bệnh cho con,” thì ông tìm một cái cớ để đổ thừa cho sự thất bại của mình: “Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi.” Câu trả lời này cho chúng ta thấy 2 nan đề của ông: 1/ tính phụ thuộc, ỷ lại. Ông không thể tự lập làm một cái gì cả, ông luôn phải dựa dẫm vào người khác. 2/mặc cảm thất bại. Ông luôn nhớ về những lần thất bại, kinh nghiệm tiêu cực về những chuyện trong quá khứ đã có ảnh hưởng lớn đến ông. Chúng ta cần phải viết sô-găm để phân tích, tìm ra gốc rễ của những căn bệnh bắt đầu từ đâu. Nếu chúng ta cứ đi tìm lý do lý trấu, thì chúng ta sẽ không bao giờ nhận được sự chữa lành. Chúng ta cần phải đứng trước Chúa JESUS và nhìn thấy bản thân trong nguyên bản.

Chúng ta cùng xem câu 8 “Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.”

Sau khi nghe người bịnh than thở, Chúa không an ủi, “Ông chịu đựng được 38 năm rồi. Thôi ráng thêm vài năm nữa.” Ngài không nói, “Tội nghiệp quá. Ðể ta giúp mang ngươi đến gần ao hơn,” hay “Ðể ta cho ngươi một cái giường tốt hơn.” Chúng chỉ là những giải pháp tạm thời của con người giúp con người, giới hạn trong những phương tiện vật chất, để kéo dài thêm niềm hy vọng hão huyền, hầu giúp nhau sống qua ngày, chờ đến khi đời mình chấm dứt, thoát khỏi đời sống đọa đầy. Nhưng Ngài lại nói một cách khác hẳn. Ðúng hơn, Ngài ra lệnh:

1/Hãy đứng dậy: Chúa cho người bại có quyền năng đứng dậy, nhưng người bại cần phải có đức tin độc lập để vâng phục làm theo, đứng dậy khỏi đời sống cũ, khỏi những thói quen cũ, đứng dậy khỏi những thất bại, khỏi tiêu cực, khỏi sự vô tín, tuyệt vọng.

2/Vác giường mình: Chúa muốn ông vác giường quăng đi, chớ không phải vác đi nơi khác ngủ. Chúa muốn ông làm một hành động dứt khoát, để không trở lại nằm dài bên bờ ao Bê-tết-đa đó nữa. Cũng vậy, khi tin Chúa, Ngài muốn chúng ta quăng cái giường mình đã từng nằm bên bờ ao, là những thói quen tội lỗi cũ, từ bỏ những gì có thể lôi kéo, quyến rũ mình trở lại đời sống cũ. Một cách chúng ta “vác giường mình” là công khai tuyên bố, sẽ không bao giờ trở lại đời sống cũ.

3/Đi: là bắt đầu một cuộc đời mới bước theo CHÚA JESUS, trở thành môn đệ của Ngài. Đi là đi nói với người khác về Chúa, rằng Ngài đã thay đổi hoàn toàn đời sống ông.

Chuyện gì xảy ra sau khi Chúa JESUS phán ra Lời của Ngài? Chúng ta cùng xem câu 9 “Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và đi. Vả, bấy giờ là ngày Sa-bát”. Người bệnh đã nghe và tiếp nhận lời của Chúa JESUS, anh ta có đức tin và phép lạ xảy ra tức thì. Ông ta đã nghe thấy tiếng phán của ĐỨC CHÚA TRỜI hằng sống. Lời của Chúa JESUS đem đến sự chữa lành và sự sống. Bởi vì Ngài là ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúng ta cùng xem câu 14 “Sau lại, Đức Chúa Jêsus gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng”.

1/ Nan đề gốc rễ của người bệnh chính là tội lỗi chứ không phải bệnh tật, anh ta đã sống một cuộc đời không có ĐỨC CHÚA TRỜI, đời sống của anh ta không dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Con người có thể sinh ra với các khiếm khuyết, nhưng vẫn có thể làm vinh hiển ĐỨC CHÚA TRỜI, thậm chí qua các khiếm khuyết đó. Nick Vujicic sinh ra không có chân tay, nhưng anh đã đem lại niềm hy vọng cho hang triệu người qua đời sống của mình.

2/ sự chữa lành có thể bị đánh mất, nếu chúng ta vẫn tiếp tục sống trong tội lỗi, không ăn năn.

3/ sau khi được chữa lành cần thay đổi mục đích sống – sống vì vinh hiển Đức Chúa Trời.

Chúng ta cùng đọc câu 10-16 “Các người Giu-đa bèn nói với kẻ được chữa lành rằng: Nay là ngày Sa-bát, ngươi không phép mang giường mình đi. 11 Người trả lời rằng: Chính người đã chữa tôi được lành biểu tôi rằng: Hãy vác giường ngươi và đi. 12 Họ hỏi rằng: Người đã biểu ngươi: Hãy vác giường và đi, là ai? 13 Nhưng người đã được chữa lành không biết là ai: vì Đức Chúa Jêsus đã lẫn trong đám đông tại chỗ đó. 14 Sau lại, Đức Chúa Jêsus gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng. 15 Người đó đi nói với các người Giu-đa rằng ấy là Đức Chúa Jêsus đã chữa lành cho mình. 16 Nhân đó dân Giu-đa bắt bớ Đức Chúa Jêsus, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát.”. Cả đoạn Kinh Thánh này tóm gọn trong một câu hỏi: Chúa JESUS là ai? Và câu 17-25 trả lời cho câu hỏi này.З

Chúng ta xem câu 17-18 “Nhưng Ngài phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy. 18 Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời.” Câu Kinh Thánh này tuyên bố rõ ràng Chúa JESUS là ĐỨC CHÚA TRỜI.

Chúng ta xem câu 24-25 “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. 25 Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống.”

Chúa Jesus Ngài công bố mình là Đức Chúa Trời, là Đấng Mesiah, và lời của Ngài là lời hằng sống có quyền năng đem đến sự chữa lành, sự cứu rỗi. Một người bại sống 38 năm trời trong bệnh tật, trong sự thất bại trong sự cô đơn, trong sự tuyệt vọng, mục đích sống của anh ta chỉ quanh quẩn ở bờ ao Bê-tết đa, có lẽ anh đã buông xuôi chấp nhận số phận của mình như thế đến cuối đời. Cho đến khi Chúa Jesus đến, cuộc đời của anh ta hoàn toàn thay đổi lần đầu tiên anh đứng dậy trên đôi chân của mình sau 38 năm chỉ biết lê lết và nằm. điều đó minh chứng lời Chúa Jesus có quyền năng đem đến sự chữa lành, minh chứng Chúa Jesus là ĐỨC CHÚA TRỜI. Amen!

Cũng vậy tôi đã từng là một người bại 22 năm trời sống trong nô lệ: nô lệ của rượu bia, nô lệ của thuốc lá, nô lệ của những chất kích thích, nô lệ của những sự tà dâm, nô lệ của tiền bạc, nô lệ cho những thú vui tự hủy hoại đời sống của mình… tôi từng tin rằng cuộc sống phải như thế thì mới đáng sống. Mọi tư tưởng suy nghỉ của tôi chỉ xoay quanh những vẫn đề này. Cho đến khi tôi gặp Chúa Jesus qua quyền năng của lời Chúa tôi được giải thoát khỏi đời sống tội lỗi, nô lệ, nghiện ngập mà trước đây tôi đã từng cho rằng cuộc sống nếu thiếu những thứ đó là 1 cuộc sống nhàm chán vô nghĩa. Lời của CHÚA  là quyền năng khi Ngài mở con mắt thuộc linh cho tôi nhận biết được chân lý, như Chúa Jesus hỏi người bại “ngươi muốn được lành chăng” tôi hiểu được tôi là tội nhân cần sự chữa lành, cần sự sự cứu rỗi nơi Chúa Jesus. Và lời Ngài hành động trong tôi đem đến động lực, quyền năng thay đổi tôi. Tôi ko còn sống như trước kia, tôi ko còn hút thuốc tôi ko còn rượu bia, ko còn ham hố những chất kích thích. Suy nghĩ tư tưởng tôi được thay đổi. Mục đích sống thay đổi. Ngày hôm nay tôi đứng đây để minh chứng cho quyền năng biến đổi của NGÀI, Ngài biến tôi từ một đời sống bẩn thỉu như nước cống trở thành rượu nho. Chúa Jesus là Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng Mesiah. Chính Ngài đã giải thoát tôi, và ban cho tôi sự tự do thật. Amen!

Be the first to comment

Leave a Reply