2026 Thư gửi tín hữu Galati, Bài giảng 1
không có Tin lành khác
Ga-la-ti 1:1-24
Câu khóa 1:7-8.
Lời giới thiệu về Thư gửi tín hữu Galati
Tác giả: Sứ đồ Phao-lô. Thư gửi tín hữu Ga-la-ti là một bức thư do Sứ đồ Phao-lô viết cho các tín hữu ở Ga-la-ti vào năm 46-47 sau Công nguyên. Phao-lô là người Tạt-sơ (Tarsus). Tạt-sơ là trường đại học đứng thứ 3 trong thế giới cổ đại thời đó, đứng thứ nhất là Athens, đứng thứ 2 là Alexandria. Thư Galati là 1 trong những thư tín đầu tiên mà Phao-lô viết mặc dù, theo thứ tự sắp xếp trong kinh thánh thì thơ Roma đứng trước Galati nhưng mà thơ Ro-ma là 1 trong thơ cuối cùng mà Phao-lô viết.
Mục đích của thư: Vùng Galati nằm gần xứ Giu-đê, vì vậy có một cộng đồng người Do Thái lớn sinh sống ở đó. Trong chuyến truyền giáo đầu tiên của Phao-lô, ông đã phải chịu nhiều lời phỉ báng từ người Do Thái. Sau khi Phao-lô trở thành người tiên phong của hội thánh đi rao giảng Phúc âm, những người Do Thái theo chủ nghĩa luật pháp đã thâm nhập vào hội thánh và làm sai lệch Phúc âm mà Phao-lô rao giảng. Họ cho rằng chỉ đức tin thôi là chưa đủ và việc cắt bì cùng việc tuân giữ Luật pháp Môi-se là cần thiết để được cứu rỗi. Họ nói rằng người ta chỉ có thể trở thành dân của Đức Chúa Trời bằng cách ăn uống theo truyền thống và giữ các ngày lễ trong Cựu Ước. Họ đã giảng dạy một Phúc âm bị bóp méo. Người Do Thái cũng công kích Phao-lô không thực sự là một Sứ đồ, tuyên bố rằng những lời dạy của Phao-lô có vấn đề và không phải là lẽ thật. Bốn hội thánh ở Galati đã nghe theo người Do Thái và dễ dàng quay lưng lại với Phúc âm. Chân lý của Phúc âm sụp đổ, và hội thánh sơ khai trở nên giống như một nhánh của Do Thái giáo, họ đã thêm lời dạy của Chúa Giê-su vào giáo lý Do Thái. Phao-lô đã nổi giận và viết thư Ga-la-ti, cuốn sách đầu tiên của Tân Ước, vào khoảng năm 47-48 sau Công nguyên để bảo vệ chân lý của Phúc âm. Qua thư Ga-la-ti, Cơ đốc giáo đã thể hiện rõ sự khác biệt của mình trong bối cảnh Do Thái giáo và Cơ đốc giáo cùng tồn tại. Vì vậy, Ga-la-ti còn được gọi là tuyên ngôn độc lập của Cơ đốc giáo khỏi Do Thái giáo. Người ta nói rằng bức thư này là Hiến chương vĩ đại về tự do.
<Hiến chương Tự do>. Martin Luther đã sử dụng thư Ga-la-ti làm nền tảng cho cuộc Cải cách. Ông nói rằng, trên thực tế, ông đã kết hôn với người Ga-la-ti và đó là Catherine (tên vợ của ông). Một học giả tên là Meriten nói rằng nếu thư Ga-la-ti không được viết ra, Cơ đốc giáo có thể chỉ là một nhánh của Do Thái giáo. Sách Rô-ma được viết rất có hệ thống, với giọng văn điềm tĩnh, lý lẽ. Tuy nhiên, thư Ga-la-ti mang tính chất chiến đấu, vì nó được viết để đáp trả lại cuộc khủng hoảng mà hội thánh đang phải đối mặt. Mặc dù không có tính hệ thống như thư Rô-ma, nhưng nó đã làm tốt việc biện minh cho Phúc âm Cơ đốc. Nó cũng là một bức thư tự truyện, chứa đựng nhiều lời chứng cá nhân từ Phaolô. Một người khác nói thư này là viên đá dưới khe mà giống như David Luther đã nhặt lên khi giáp mặt với tên khổng lồ là Giáo hoàng và đập vỡ trán hắn. John Bunian tác giả của “Thiên lộ lịch trình” nói rằng trừ Kinh thánh ra thì tôi thích cuốn giải nghĩa thư Galati của Luther hơn hết. Đó là cuốn thích hợp nhất cho 1 lương tâm bị thương tổn. John Wesley khi đang đọc cuốn sách này thì cảm thấy lòng mình được sưởi ấm hơn bao giờ hết, điều đó xảy ra lúc 08.45 phút ngày 24 tháng 5 năm 1738. Vậy là thư này có ảnh hưởng sâu sắc trong lịch sử cơ đốc giáo và rất nhiều cơ đốc nhân yêu thích nó, nhưng cũng có rất nhiều người cực kỳ không thích sách Galati. Đối với nhiều người thì sách này quá đa cảm chứa quá nhiều cảm xúc cá nhân của Phao-lô. Thư được viết với sức nóng bừng bừng giống như là được viết trên giấy chống cháy. Có vẻ như tác giả đang rất là nóng nảy và rất giận dữ. Một số người nói rằng là Thư này Phao-lô viết nhiều thứ quá riêng tư. Ông nói về việc chính ông tranh cãi với Phi-e-rơ trước mặt mọi người. Vậy là trong hội thánh đầu tiên cũng có những mối bất hòa công khai. Họ khác chúng ta ngày nay, chúng ta không dám công khai đối đầu với những điều sai trái trong hội thánh. Khi lẽ thật bị đe dọa thì ngay cả Phaolô và Phi-e-rơ cũng đối đầu với nhau. Thường thì trận chiến cam go nhất là ở bên trong hội thánh. Ma quỷ tấn công hội thánh hiệu quả nhất là từ bên trong. Khi ma quỷ tấn công hội thánh từ bên ngoài ví dụ như trong thời kỳ hội thánh bị bách hại thì hội thánh lại tăng trưởng tốt. Sứ đồ Phaolô và Phi-e-rơ đã tranh luận với nhau công khai về những vấn đề nền tảng. Ở đây tôi tin rằng Chúa ban trách nhiệm chiến đấu và bảo vệ giáo lý và kỷ luật trong hội thánh cho những người nam. Sứ đổ Phao-lô và Phi-e-rơ đã đủ thành thật để tranh chiến với nhau và kinh thánh cũng thành thật về vấn đề này và tôi tin rằng Chúa cũng muốn chúng ta biết về điều này.
Những bức thư thời cổ đại là những văn bản rất là độc đáo. Thư từ không rẻ và không dễ gửi. Đó là 1 cuộn giấy da cuộn lại. Khi người ta mở ra, điều đầu tiên chúng ta có thể thấy đó là người gửi, địa chỉ gửi đến và sau đấy là người nhận. Rồi đến lời chào thăm và có 1 thông lệ tốt là phải nói 1 điều gì tốt đẹp về người nhận. Đặc biệt là khi mà bạn sắp nói 1 điều gì đó không hay về người đó. Trong hầu như tất cả các bức thư Phao-lô viết theo bố cục như vậy. Nhưng mà khi viết thư cho người Galati thì Phao-lô không hề viết 1 cái điều gì đó như vậy, không hề có một lời khen nào. Ông ngay lập tức chỉ trích họ, phê phán họ vì rõ ràng có 1 điều gì đó quá cấp thiết, quá nung nấu đến nỗi ông không thể đợi được theo phép lịch sự thông thường. Khi nghiên cứu 1 thư tín thì bạn cần phải cố gắng 1 cách nào đó dựng lại cái hoàn cảnh và tình huống của bức thư. Đọc để tìm ra ý nghĩa thực sự sự tình là thế nào mà phải cần đến bức thư này vậy. Tại sao thư lại được viết ra, thư trả lời cho những câu hỏi nào, đưa ra giải pháp cho vấn đề đó như thế nào.
Thư này được Phao-lô viết cho các hội thánh mà ông đã lập nên ở vùng miền Nam Galati: Antioch Pisidia (Antioch tại Pisidia) – Công vụ 13:14–52, Iconium (Y-cô-ni) – Công vụ 14:1–7, Lystra (Lít-trơ) – Công vụ 14:8–20, Derbe (Đẹt-bơ) – Công vụ 14:20–21. Những hội thánh này được Sứ đồ Phao-lô thành lập trong chuyến truyền giáo đầu tiên của ông. Trong chuyến truyền giáo đầu tiên, ông bị ném đá đến chết ở Lystra, nhưng sau đó sống lại (Công vụ 13-14). Ngay sau khi các hội thánh có các trưởng lão thì ông rời đi, giao phó lại hội thánh cho Đấng làm chủ hội thánh và các trưởng lão ở đó là đại diện của Đức Thánh Linh ở trên đất. Sau này có các giáo sư giả người Do-thái đến hội thánh. Hãy cẩn thận với những người đến để gom lại các hội thánh mà những người khác đã mất công xây dựng, sau đó họ lại gom về cho mình. Họ xây dựng những đế chế của riêng mình và họ là những con người nguy hiểm. Sự mục nát bắt đầu trong hội thánh từ ở trên bục giảng. Sự dạy dỗ xấu, giáo lý sai lạc là 1 điều chúng ta cần phải đề phòng. Phép cắt bì, ngày Sabath và lễ Vượt qua là 3 điều mà người Do Thái bắt buộc phải thực hiện.
Phaolô lập luận như sau lời hứa dành cho Abraham chỉ dành cho 1 người nam trong dòng dõi của Abraham. Từ dòng dõi chỉ ở số ít. Lời hứa là dành cho Adam và dòng dõi tức là 1 người nam ở trong số những hậu duệ của Abraham. Khi người Nam này xuất hiện tức là Chúa Giêsu đến thì phép cắt bì không còn cần thiết nữa. Vì Ngài đã thừa kế điều đó rồi. Đó là điều được chép ở trong chương 3.
Thế thì tại sao Phaolô lại cắt bì cho Ti-mô-thê? Vì Ti-mô-thê đồng hành cùng với Phao-lô và Phao-lô thường đi đến nơi nào thì vào nhà hội Do Thái để giảng ở đó trước. Nếu Ti-mô-thê chưa được cắt bì thì không thể đi cùng với Phaolô vào nhà hội được. Làm như vậy chỉ để tiện cho việc truyền giáo. Nhưng tại sao Phao-lô lại gay gắt với việc cắt bì như vậy? Bởi vì đằng sau phép cắt bì vẫn là Do Thái giáo, đó là 1 tôn giáo tự cứu mình và cách giữ các điều răn là 1 nhiệm vụ bất khả thi. Đừng đặt anh chị em dưới luật pháp, hãy đặt họ dưới ân điển. Chúng ta có 1 luật thôi, đó là luật của Đấng Chris, luật của tình yêu thương, chứ không phải luật của Môise 613 điều luật.
Những từ khóa trong thư Ga-la-ti là Tin Lành và tự do. Khi tin vào Chúa Giê-su Christ, chúng ta được giải thoát khỏi luật pháp và tội lỗi. Tự do khỏi luật pháp và tội lỗi không có nghĩa là sống buông thả, nuông chiều bản thân. Chúng ta có thể sống một cuộc sống thực sự tự do khi bước đi trong Thánh Linh và kết trái của Thánh Linh. Thư Ga-la-ti cho chúng ta biết tự do đích thực là gì và dạy chúng ta cách sử dụng nó một cách đúng đắn. Chúng ta không nên dùng tự do làm cái cớ để nuông chiều xác thịt, mà hãy phục vụ lẫn nhau bằng tình yêu thương (5:13). Chủ nghĩa luật pháp là kẻ thù của sự tự do, nhưng sự phóng túng buông tuồng cũng vậy.
Chương 1-2 Phao-lô nói về sự tự do thật trong Đấng Christ. Chương 3-4 nói về chủ nghĩa luật pháp, là kẻ thù của sự tự do. Chương 5-6 nói về mối nguy ngược lại. Phao-lô chiến đấu trên 2 mặt trận.
Phần 1: Bối cảnh & Bản chất của Phúc âm (Ga-la-ti 1 – 3)
- Bối cảnh lịch sử: Thư Ga-la-ti được viết khi các giáo sư giả (người Do Thái giáo) xâm nhập hội thánh, đòi hỏi người ngoại bang phải chịu phép cắt bì và giữ Luật pháp Môi-se mới được cứu.
- Thẩm quyền của Phao-lô: Phao-lô khẳng định chức vụ sứ đồ của ông đến trực tiếp từ Đấng Christ, không qua loài người.
- Tăng trưởng bằng đức tin: Ông quở trách người Ga-la-ti vì đã bắt đầu bằng Đức Thánh Linh nhưng lại muốn hoàn thành bằng xác thịt/việc làm của luật pháp.
- Giao ước với Áp-ra-ham: Cơ Đốc nhân là con cháu thuộc linh của Áp-ra-ham, nhận lời hứa qua đức tin chứ không qua việc giữ luật pháp.
Phần 2: Tự do & Đời sống trong Thánh Linh (Ga-la-ti 4 – 6)
- Sự tự do trong Đấng Christ: Luật pháp chỉ là “người giám hộ” dẫn chúng ta đến với Đấng Christ. Khi đã trở nên con nuôi của Đức Chúa Trời, chúng ta không còn là nô lệ cho luật pháp.
- Tự do không phải là phóng túng: Sự tự do Cơ Đốc không phải là cớ để thỏa mãn bản tính xác thịt, mà là năng lực để yêu thương và phục vụ người khác.
- Cuộc chiến nội tâm: Cuộc xung đột giữa xác thịt và Thánh Linh trong đời sống tín hữu.
- Bông trái của Thánh Linh: Mô tả sự tương phản giữa “việc làm của xác thịt” (dâm dục, thờ hình tượng, tranh chấp…) và “trái của Thánh Linh” (yêu thương, vui mừng, bình an, nhân từ…).
- Quy luật gieo và gặt: Ai gieo cho xác thịt sẽ gặt sự hư mất; ai gieo cho Thánh Linh sẽ gặt sự sống đời đời.
Năm sau Công nguyên (xấp xỉ)
Thông tin chính về cuộc đời Phao-lô
5-31 Sinh ra tại Tarsus, Cilicia; công dân La Mã (Công vụ 21:39, 22:3, 22:25); người Pha-ri-si, thuộc chi phái Benjamin (Phi-líp 3:5-6). Học tại Giê-ru-sa-lem dưới sự hướng dẫn của Gamaliel; trở thành một học giả Pha-ri-si.
32-33 Trước khi Phao-lô cải đạo (Công vụ 7:58): giết những người tin vào Chúa Giê-su; bỏ phiếu cho việc giết Ê-tiên
- Phao-lô cải đạo tại Đa-mát (Công vụ chương 9)
33-35 Trong chuyến hành trình qua Ả Rập, được cho là kéo dài ba năm (Ga-la-ti 1:17), ông đã cầu nguyện một mình với Chúa.
35 Chuyến viếng thăm Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên kéo dài hai tuần (Công vụ 9:26-29, Ga-la-ti 1:18-19)
35-45 Làm việc tại Syria và Cilicia (Công vụ 9:30, Ga-la-ti 2:11). Trở về quê hương Tarsus và sống ở đó 10 năm. 45-46 Sống trong hội thánh ở Antioch thuộc Syria và làm giáo viên (Công vụ 11:25-26)
- Chuyến thăm thứ hai tới Giê-ru-sa-lem: Ba-na-ba và Phao-lô chăm sóc hội thánh ở Giê-ru-sa-lem với sự giúp đỡ từ hội thánh ở An-ti-ốt (14 năm sau khi ông cải đạo, Công vụ 12:25)
47-48 Chuyến đi đầu tiên của Phao-lô và Ba-na-ba (Công vụ 13-14). Viết thư gửi tín hữu Ga-la-ti tại An-ti-ốt, Syria.
- Chuyến thăm thứ ba tới Giê-ru-sa-lem: tham gia Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem (Công vụ 15, Ga-la-ti 2): các câu hỏi về phép cắt bì, v.v.
49-52 Chuyến đi thứ hai của Phao-lô và Si-la (Công vụ 15-18): bắt đầu từ hội thánh ở Phi-líp, hội thánh lan rộng khắp châu Âu. Viết thư cho người Tê-sa-lô-ni-ca ở Cô-rinh-tô. Chuyến thăm Giê-ru-sa-lem lần thứ tư.
52-57 Chuyến đi thứ ba (Công vụ 18:22-21:17): Galatia, Phrygia, Macedonia, Asia. Ông viết 1 Cô-rinh-tô ở Ê-phê-sô, 2 Cô-rinh-tô ở Macedonia và thư Rô-ma ở Cô-rinh-tô.
57-59 Chuyến viếng thăm Giê-ru-sa-lem lần thứ năm; bị người Do Thái bắt giữ trong Đền thờ (Công vụ 21-22). Bị giam cầm ở Caesarea (Công vụ 23-26).
59 Ông bị đắm tàu trên đường đến Rô-ma (Công vụ 27-28).
60-62 Bị giam cầm tại Rô-ma (Công vụ 28). Bị quản thúc tại gia, nhưng tay bị xiềng xích (Công vụ 28:20, Ê-phê-sô 6:20). Viết thư cho hội thánh Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và thư cho Phi-lê-môn.
62-67 Được thả khỏi Rô-ma và tiếp tục chuyến truyền giáo thứ tư đến Macedonia (Tit 1:5). Viết Thư gửi Tit ở Nicopolis và 1 Timôthê ở Macedonia.
Ông bị giam trong nhà tù La Mã lần thứ hai, và thư 2 Ti-mô-thê được viết trong nhà tù Ma-mê-tin (2 Ti-mô-thê 1:16, 2 Ti-mô-thê 4:6-8).
67 Ông đã tử đạo (có lẽ) trên đường Via Ostia trong cuộc bách hại dưới thời Nero. Ông an nghỉ trong Chúa.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.