2026 Thư gửi tín hữu Galati 2
Sự xưng công chính cho loài người
Ga-la-ti 2:1-21
Câu gốc Ga-la-ti 2:16
Sách Galati là một cuốn sách có sức ảnh hưởng lớn, đã thay đổi thời đại, sửa chữa những sai lầm lịch sử và đổi thay nhiều cuộc đời. Martin Luther là một ví dụ sáng chói về người được biến đổi bởi sách Galati. Ông nói: “Tôi đã kết hôn với sách Galati. Galati là Catherine của tôi.” Ở một chỗ khác, ông nói: “Galati là Phúc Âm vang dội như sấm nổ giữa trời.”
* Trong chương đầu tiên, Phaolô tuyên bố rằng chức vụ Sứ đồ của ông và Tin lành mà ông rao giảng không phải xuất phát từ con người, mà là từ chính Đức Chúa Trời.
Trong 2:1-5, Phao-lô tuyên bố rằng ông không ép buộc Tít, một người Hy Lạp, phải chịu phép cắt bì. Ông nhấn mạnh rằng ông đang bảo vệ lẽ thật của Phúc Âm và chứng minh rằng Phúc Âm mà ông rao giảng hoàn toàn giống với Phúc Âm mà các Sứ đồ khác đã rao giảng.
Trong 2:6-10, Phao-lô nói rõ rằng các sứ đồ trong hội thánh Giê-ru-sa-lem đã công nhận Tin lành mà ông rao giảng. Ông khẳng định chức vụ sứ đồ của mình là chân chính và có thẩm quyền như của Phi-e-rơ. Như vậy, ông chứng minh rằng Tin lành mà ông rao giảng ở Ga-la-ti cũng giống Tin lành mà Phi-e-rơ rao giảng và nó đến từ Chúa Giê-su Christ.
Trong 2:11-14, Phao-lô thuật lại chuyện là ông đã quở trách Sê-pha trong chuyến thăm An-ti-ốt. Ông đề cập đến những hậu quả nghiêm trọng của hành vi giả hình sai trái của Phi-e-rơ và khẳng định rằng để bảo vệ lẽ thật của Phúc Âm hành vi như vậy là không thể chấp nhận được, và không ai có thể được miễn trừ khỏi trách nhiệm này.
Trong 2:15-21, ông phát triển ý tưởng này và giải thích bản chất của Phúc Âm cho độc giả của thư này (người Ga-la-ti và mọi người).
- Mục đích của Phao-lô khi trở lại Giê-ru-sa-lem mười bốn năm sau đó là gì (1-2)? Tại sao Phao-lô không ép Tít, một người Hy Lạp, phải chịu phép cắt bì (3-5)? Tại sao việc chắc chắn rằng lẽ thật của Phúc Âm được lưu truyền giữa họ lại quan trọng đến vậy?
1 Sau đó mười bốn năm, tôi lại lên thành Giê-ru-sa-lem với Ba-na-ba, có đem Tít cùng đi nữa. 2 Tôi vâng theo lời tỏ ra mà lên đó, phô bày Tin Lành mà tôi đã giảng trong người ngoại đạo ra cho anh em; lại phô bày riêng cho những kẻ có danh vọng hơn hết, kẻo sự chạy của tôi trước kia và bây giờ hóa ra vô ích chăng. 3 Dầu Tít, kẻ cùng đi với tôi, là người Gờ-réc, cũng không bị ép phải cắt bì. 4 Chúng tôi đã làm như vậy, vì cớ mấy người anh em giả, lẻn vào trong vòng chúng tôi, để rình xem sự tự do mà chúng tôi được trong Đức Chúa Jêsus Christ, đặng bắt chúng tôi làm tôi mọi. 5 Chúng tôi không nhường họ một giây phút nào, chối chẳng chịu thuộc dưới quyền họ, hầu cho lẽ thật của Tin Lành được vững bền trong anh em.
Sách Công Vụ cho thấy rằng sau khi cải đạo, Phao-lô đã đến Ả Rập trong ba năm để cầu nguyện và suy ngẫm. Sau đó, ông trở về Đa-mách và đến thăm Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên trong vòng mười lăm ngày để gặp Phi-e-rơ (năm 35 CN). Sau đó, ông ở lại quê hương mình là Tạt-sơ ở Ci-li-cia trong mười năm, rồi Ba-na-ba đưa ông đến An-ti-ốt (năm 45 CN). Một năm sau, có một nạn đói nghiêm trọng ở Giê-ru-sa-lem, và Phao-lô đã đến thăm Giê-ru-sa-lem lần thứ hai với viện trợ nhân đạo được quyên góp từ hội thánh ở An-ti-ốt (Công Vụ 11:27-30; năm 46 CN). Cụm từ “Sau đó mười bốn năm” trong văn bản rất có thể đề cập đến chuyến thăm thứ hai này. Lúc đó, ông và Ba-na-ba, cùng với Tít, đã đến hội thánh ở Giê-ru-sa-lem để chuyển giao hàng cứu trợ.
Sau khi hoàn thành chuyến truyền giáo đầu tiên cùng với Barnabas, ông ở lại Antioch và viết Thư gửi tín hữu Galati (47-48 CN). Khoảng thời gian này, các anh em từ Giu-đê đến Antioch để nhấn mạnh việc tuân giữ Luật Môi-se. Phao-lô và Barnabas đã nêu vấn đề này và trở lại Giê-ru-sa-lem lần thứ ba để thảo luận với các sứ đồ và các trưởng lão. Sự kiện này là Giáo hội nghị đầu tiên ở Giê-ru-sa-lem, được mô tả trong Công vụ các Sứ đồ chương 15 (49 CN). Vào cuối chuyến truyền giáo thứ hai, ông trở lại hội thánh ở Antioch sau chuyến thăm Giê-ru-sa-lem lần thứ tư (Công vụ 18:22; 52 CN). Sau chuyến truyền giáo thứ ba, ông lại đến thăm Giê-ru-sa-lem, bị bắt giam, rồi bị chuyển đến Rô-ma (Công vụ 21:17; 57 CN).
“1 Sau đó mười bốn năm, tôi lại lên thành Giê-ru-sa-lem với Ba-na-ba, có đem Tít cùng đi nữa.” Khi Phao-lô trở về Giê-ru-sa-lem, ông đã dẫn theo Tít và Ba-na-ba (2:1b). Ba-na-ba là người cố vấn thuộc linh cho Phao-lô. Sau khi Phao-lô cải đạo, ông đã giúp Phao-lô gặp gỡ các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem (xem Công vụ 9:26-30). Ông cũng dẫn Phao-lô đến An-ti-ốt khi Phao-lô đang ở Tạt-sơ (năm 45 CN, Công vụ 11:26).
Người ta biết rất ít về Tit. Có một điều chắc chắn: ông là người Hy Lạp. Phao-lô coi ông như con trai thuộc linh của mình, và rất tin tưởng Tít. Barnabas đã hướng dẫn Phaolô, và Phaolô đã hướng dẫn Tit. Không có Barnabas thì sẽ không có Phaolô, và không có Phaolô thì sẽ không có Tit. Hơn nữa, Barnabas là người Do Thái, Tít là người Hy Lạp, và Phaolô, với tư cách là người Do Thái, đã hoạt động trong thế giới Hy Lạp. Vì vậy, chuyến thăm chung của ba người này đến Jerusalem có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Vào thời đó, người Do Thái và người ngoại đạo không giao tiếp với nhau. Nhưng Barnabas, Phao-lô và Tít đã vượt qua ranh giới sắc tộc và cùng nhau làm việc. Vào thời điểm đó, họ không thể nào làm việc cùng nhau được, nhưng Phúc Âm đã vượt qua những khác biệt về xuất thân của họ.
“2 Tôi vâng theo lời tỏ ra mà lên đó, phô bày Tin Lành mà tôi đã giảng trong người ngoại đạo ra cho anh em; lại phô bày riêng cho những kẻ có danh vọng hơn hết, kẻo sự chạy của tôi trước kia và bây giờ hóa ra vô ích chăng.”
“theo lời tỏ ra” trong câu này và “đến từ loài người” trong câu 1:11 tương phản rõ ràng. Phao-lô đến Giê-ru-sa-lem theo sự mặc khải của Đức Chúa Trời. Ông không đến đó để nghe Tin lành từ các sứ đồ hoặc để nhận được sự chấp thuận cho chức vụ sứ đồ của mình từ các sứ đồ ở Giê-ru-sa-lem. Ông không đến đó theo lời kêu gọi của các sứ đồ. Chính Đức Chúa Trời đã dẫn ông đến Giê-ru-sa-lem.
Đức Chúa Trời đã mặc khải cho Phao-lô rằng ông nên bày tỏ trước mặt những kẻ có danh vọng hơn hết Tin lành mà ông đã rao giảng cho dân ngoại. Ở đây, “ những kẻ có danh vọng hơn hết” ám chỉ các vị lãnh đạo của hội thánh Giê-ru-sa-lem. Đó là Gia-cơ, em trai của Chúa Giê-su, Phi-e-rơ và Giăng. (Công vụ 2:9) Phao-lô đã rao giảng Tin lành cho dân ngoại suốt mười bốn năm nay, và ông vẫn tiếp tục làm như vậy cho đến ngày nay. Phao-lô hy vọng rằng các vị lãnh đạo của hội thánh Giê-ru-sa-lem sẽ hiểu đúng Tin lành mà ông rao giảng – chân lý rằng sự cứu rỗi không phải được thực hiện nhờ các việc làm theo luật pháp, mà là nhờ đức tin nơi Chúa Giê-su Christ. Điều này là cần thiết để những nỗ lực rao giảng Tin lành của ông không phải là vô ích.
3 Dầu Tít, kẻ cùng đi với tôi, là người Gờ-réc, cũng không bị ép phải cắt bì.
Tít là một người Hy Lạp. Khi Phao-lô đến hội thánh ở Giê-ru-sa-lem để cung cấp viện trợ nhân đạo, ông đã dẫn Tít đi cùng để báo cáo với các lãnh đạo ở Giê-ru-sa-lem về mục vụ truyền giáo cho dân ngoại và cho họ thấy kết quả của chức vụ mình. Điều này có nghĩa là một số tín hữu Do Thái ở Giê-ru-sa-lem đã cố gắng ép buộc Tít phải chịu phép cắt bì. 4 Chúng tôi đã làm như vậy, vì cớ mấy người anh em giả, lẻn vào trong vòng chúng tôi, để rình xem sự tự do mà chúng tôi được trong Đức Chúa Jêsus Christ, đặng bắt chúng tôi làm tôi mọi. Họ tin rằng mặc dù họ đã được cứu bởi đức tin nơi Chúa Giê-su, họ vẫn cần phải chịu phép cắt bì và giữ các ngày lễ để sống như dân của Đức Chúa Trời. (Công vụ 15:1 ) Họ coi phép cắt bì là điều kiện để được cứu rỗi. Đây là một vấn đề nghiêm trọng. Chúa Giê-su đã chuộc tội cho tất cả tội lỗi của chúng ta bằng cách đổ huyết Ngài trên thập tự giá. Nếu họ nói rằng sự cứu rỗi là không thể nếu không có phép cắt bì, thì vấn đề là gì? Họ nói rằng cái chết của Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, không đủ cho sự cứu rỗi của chúng ta. Họ khẳng định rằng sự cứu rỗi đòi hỏi cái chết của Chúa Giê-su trên thập tự giá, cũng như công đức nỗ lực của con người. Đây là một giáo lý sai lạc làm xuyên tạc chân lý của Phúc Âm. Vì vậy, trong tất cả các thư của mình, Phao-lô đều nhấn mạnh chân lý rằng sự cứu rỗi được thực hiện bởi đức tin. Tít đến Giê-ru-sa-lem với tư cách là đại diện của các tín hữu người ngoại. Nếu Tít được phép không chịu phép cắt bì, các tín hữu ngoại bang khác cũng sẽ noi theo gương. Vì vậy, Phao-lô đã không ép Tít, một người Hy Lạp đang ở cùng ông, phải chịu phép cắt bì. Khi làm như vậy, ông đã bác bỏ những lời dạy của các giáo sư giả, những người đã làm sai lệch chân lý của Phúc Âm.
Phao-lô gọi họ là “anh em giả”. Họ tự xưng là anh em, nhưng lại là những người theo chủ nghĩa luật pháp, chối bỏ Phúc Âm về ân điển của Chúa Giê-su Christ. Họ lén lút thâm nhập vào hội thánh và tìm cách nô dịch những tín đồ được hưởng tự do nhờ Phúc Âm trong Chúa Giê-su Christ.
5 Chúng tôi không nhường họ một giây phút nào, chối chẳng chịu thuộc dưới quyền họ, hầu cho lẽ thật của Tin Lành được vững bền trong anh em.
Phao-lô và các cộng sự của ông chưa bao giờ khuất phục trước họ dù chỉ một khoảnh khắc. Họ chưa bao giờ thỏa hiệp. Tuy nhiên, những anh em giả đã đến An-ti-ốt và khăng khăng rằng sự cứu rỗi là không thể nếu họ không chịu phép cắt bì theo Luật Môi-se. Vấn đề này đã dẫn đến việc triệu tập Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem. Tại Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem, chân lý Phúc Âm đã được rao giảng rằng người Do Thái và người ngoại đều được cứu rỗi như nhau bởi ân điển của Chúa Giê-su. Phao-lô đã có lập trường công khai về những vấn đề không liên quan đến chân lý Phúc Âm. Ví dụ: trong chuyến truyền giáo thứ hai, Phao-lô dự định đưa Ti-mô-thê, người sinh ra ở Lystra, có mẹ là người Do Thái và cha là người Hy Lạp, cùng đi với mình với tư cách là một môn đồ. Sau đó, ông đã làm phép cắt bì cho Ti-mô-thê (Công vụ 16:1-3). Điều này là vì việc không được cắt bì có thể cản trở nghiêm trọng khả năng trở thành người lãnh đạo giữa vòng người Do Thái của Ti-mô-thê. Vì vậy, Phao-lô có thể hành động khác đi miễn là chân lý của Phúc Âm không bị tổn hại. Ông có thể hành động như một người Do Thái để thu hút người Do Thái, và như một người ngoại để thu hút người ngoại (1 Cor. 9:22). Tuy nhiên, ông kiên quyết và không khoan nhượng chống lại những người làm sai lệch chân lý của Phúc Âm. Ông làm điều này để chân lý của Phúc Âm luôn luôn được giữ vững trong Hội Thánh.
Ngày nay, không còn những người Do Thái theo chủ nghĩa luật pháp khăng khăng về sự cần thiết của việc cắt bì để được cứu rỗi. Tuy nhiên, vẫn còn những nhóm người tìm cách phá hoại hội thánh bằng những giáo lý sai lạc. Trong thời đại khoa học phát triển cao độ của chúng ta, một số người rao giảng một Phúc Âm khác, đặt câu hỏi: Ai tin vào sự sáng tạo trời đất của Đức Chúa Trời và tội lỗi của con người, như đã được viết trong Kinh Thánh? Đây là một phép ẩn dụ. Và trong thời đại của chúng ta, có nhiều người tự xưng là sứ đồ mới và rao giảng những mặc khải mới. Điều này được gọi là “Phong trào Tân Sứ Đồ”. Một số người coi công đức của con người là điều kiện để được cứu rỗi và tìm kiếm công đức của riêng mình thông qua việc làm của họ. Nhưng chúng ta tin rằng Kinh Thánh là sự mặc khải hoàn hảo của Đức Chúa Trời. Không thể có sự mặc khải nào khác ngoài Kinh Thánh. Chúng ta tin rằng mọi lời trong Kinh Thánh, từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền của Giăng, đều là lẽ thật.
Chúng ta tin vào sự sa ngã của loài người, sự cứu rỗi qua thập tự giá và sự phục sinh của Chúa Giê-su, cũng như vào sự tái lâm của Chúa Giê-su Christ và phán xét cuối cùng của Ngài. Thế mà, người ta lại coi chúng ta là những kẻ ngu dại. Tuy nhiên, bất chấp vô số những ý tưởng hão huyền, chúng ta phải vững tin vào chân lý rằng sự cứu rỗi được thực hiện bởi đức tin. Hơn nữa, bất kể hoàn cảnh như thế nào, chúng ta phải nghiên cứu Kinh Thánh và cố gắng sống theo Lời Chúa. Chúa ơi. Đây là con đường dẫn đến sự sống và sự tăng trưởng dồi dào.
Một số người nói rằng, “UBF quá chú trọng đến truyền giáo. Chúng ta có bắt buộc phải viết thu hoạch suy gẫm không?” Họ đã dấn thân vào con đường sống thế tục, thoải mái và tự mãn. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu rõ điều này: việc rèn luyện đời sống thánh thiện sau khi được cứu rỗi không phải là một luật pháp tước đoạt tự do của chúng ta. Không có kỷ luật thuộc linh, chúng ta không bao giờ có thể trở thành những môn đồ tốt hay những người chăn chiên tốt. Việc thực hành đời sống thánh thiện là cần thiết để rũ bỏ con người cũ, từ bỏ những thói quen tội lỗi, và khoác lên mình một con người mới, được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời trong chân lý, công chính và thánh khiết. Việc rèn luyện này không bị ép buộc, mà được thực hiện thông qua sự ngự trị của Đức Thánh Linh. Đây là chủ đề của sách Rô-ma. Qua sự rèn luyện thuộc linh, chúng ta trở thành những người trưởng thành của Đức Chúa Trời, và khi trưởng thành, chúng ta có thể tìm thấy sự tự do đích thực trong Phúc Âm .
- Phao-lô đã nhận được sự công nhận nào từ các sứ đồ, những trụ cột của Giê-ru-sa-lem (6-9)? Nhưng họ đã yêu cầu Phao-lô và các bạn đồng hành của ông điều gì (10)? Tại sao Phao-lô lại nói điều này?
6 Còn như những kẻ mà người ta tôn trọng lắm, (trước kia là kẻ thể nào, thì chẳng can dự gì với tôi, Đức Chúa Trời không tây vị ai hết), tôi nói, những kẻ đó dầu tôn trọng lắm, cũng chẳng làm cho tôi thêm ích chút nào.
Từ “tôn trọng lắm” ở đây có nghĩa là những người lãnh đạo nổi tiếng của hội thánh Giê-ru-sa-lem. Gia-cơ, em trai của Chúa Giê-su, được biết đến là người đứng đầu hội thánh. Phi-e-rơ và Giăng là những môn đệ hàng đầu của Chúa Giê-su. Tuy nhiên, Phao-lô nói: “Dù họ có là ai đi nữa, điều đó đối với tôi không có gì đặc biệt.” Phao-lô nhận được chức vụ sứ đồ và Phúc Âm từ chính Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su Christ. Ông không phụ thuộc vào con người, mà phụ thuộc vào Đức Chúa Trời. Vì vậy, mặc dù họ là những người lãnh đạo tối cao của hội thánh Giê-ru-sa-lem, họ không có thẩm quyền đưa ra quyết định liên quan đến chức vụ sứ đồ Phao-lô. Điều này là bởi vì chức vụ sứ đồ của Phao-lô đến từ sự kêu gọi của Đức Chúa Trời và Chúa Giê-su phục sinh. Tuy nhiên, sứ đồ Phao-lô không có giọng điệu khinh miệt: “Họ chẳng là gì đối với tôi!” Ngược lại, để công việc truyền giáo giữa dân ngoại được hiệu quả, điều quan trọng là phải giành được sự công nhận của họ và hợp tác với họ. Đó là lý do tại sao ông kể cho họ về chức vụ và những thành quả của mình. Đức Chúa Trời không phán xét con người dựa trên địa vị hay vẻ bề ngoài.
7 Trái lại, họ thấy sự giảng Tin Lành cho kẻ không chịu phép cắt bì đã giao cho tôi, cũng như sự giảng Tin Lành cho người chịu phép cắt bì đã giao cho Phi-e-rơ vậy, 8 vì Đấng đã cảm động trong Phi-e-rơ để sai người làm sứ đồ cho những kẻ chịu cắt bì, cũng cảm động trong tôi để sai tôi làm sứ đồ cho dân ngoại,
Các sứ đồ không thay đổi hay thêm bất cứ điều gì vào Phúc Âm mà Phao-lô đã rao giảng. Họ cũng không thêm bất kỳ nghĩa vụ nào khác, chẳng hạn như phép cắt bì. Thay vào đó, họ coi Phao-lô là sứ đồ cho những người không cắt bì, cũng như Phi-e-rơ là sứ đồ cho những người cắt bì. Các sứ đồ công nhận Phao-lô là sứ đồ ngang hàng với họ và thừa nhận lẽ thật của Phúc Âm của ông cho dân ngoại. “ Đức Chúa Trời, Đấng biết lòng người, đã làm chứng cho họ bằng cách ban cho họ Đức Thánh Linh, cũng như Ngài đã ban cho chúng ta; và Ngài không phân biệt giữa chúng ta và họ, vì Ngài đã thanh tẩy lòng họ bởi đức tin. ” (Công vụ 15:8-9). Phao-lô và Phi-e-rơ đã rao giảng cùng một Phúc Âm. Đối tượng thính giả của họ khác nhau, nhưng nội dung bài giảng không thay đổi, không thể thay đổi và sẽ không thay đổi. Phúc Âm cần được rao giảng ngày nay tuyên bố: “Nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi đến với tất cả những ai tin vào Chúa Giê-su.”
Không thể phủ nhận rằng Phi-e-rơ là người của Chúa, nhưng ông không thể làm mọi việc một mình. Điều tương tự cũng đúng với Phao-lô. Ông có ơn kêu gọi và năng lực, nhưng ông cũng không thể làm mọi việc một mình. Chúa đã bổ nhiệm Phi-e-rơ làm sứ đồ cho người Do Thái và Phao-lô làm sứ đồ cho dân ngoại, giao cho họ những vai trò khác nhau. Vì vậy, người làm việc phải hiểu rõ nhiệm vụ được giao và trung thành với công việc của mình. Họ cũng phải tôn trọng công việc của người khác và không can thiệp vào công việc của họ.
Chúng ta có thể học được gì? Đức Chúa Trời là duy nhất. Phúc Âm mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho chúng ta cũng là duy nhất. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời hành động thông qua nhiều người theo những cách khác nhau. Không ai trên thế giới này có thể làm công việc của Đức Chúa Trời một mình. Con người nhỏ bé, yếu đuối và không hoàn hảo. Đức Chúa Trời chỉ định mỗi người vào những chức vụ phù hợp nhất. Có người ở nhà, có người đi ra nước ngoài. Có những hội thánh phục vụ sinh viên đại học, có người phục vụ người dân bình thường. Đức Chúa Trời sử dụng các mục sư khác nhau cho những người khác nhau. Điều này là bởi vì, mặc dù Phúc Âm của Đức Chúa Trời là duy nhất, nhưng đối tượng đón nhận Phúc Âm đó lại rất đa dạng. Ngày nay, chúng ta cũng chỉ có “một Phúc Âm”. Phúc Âm không thay đổi theo thời gian. Phương pháp truyền bá Phúc Âm có thể khác nhau đối với người trẻ và người già, phương Đông và phương Tây, thành thị và nông thôn, trí thức và nông dân. Nhưng nội dung vẫn không thay đổi. Vì vậy, ngày nay chúng ta phải nỗ lực rao giảng Phúc Âm. Và chúng ta phải nỗ lực bảo vệ Phúc Âm đó khỏi thế gian và khỏi những giáo sư giả.
Trong 2:8, Phao-lô nói rõ rằng chính Đức Chúa Trời chứ không phải con người đang thực hiện công việc đó. Ông dùng từ “hợp tác” hai lần, cho thấy đó là công việc của Đức Chúa Trời. Có vẻ như con người đang truyền bá Phúc Âm, nhưng thực chất Đức Chúa Trời đứng sau tất cả. Rõ ràng, không phải con người đang làm công việc đó, mà là Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã ban Phúc Âm, ban quyền năng để truyền bá Phúc Âm, và đặt đức tin vào lòng những người nghe Phúc Âm, giúp họ chấp nhận nó. Vì vậy, những người truyền bá Phúc Âm phải khiêm nhường và tôn vinh Đức Chúa Trời. Ngược lại, những người nghe Phúc Âm phải hiểu rằng Đức Chúa Trời đã sai các sứ giả đến, phải tôn trọng họ và vâng theo lời họ.
Câu 9. “9 và nhận biết ân điển đã ban cho tôi, thì Gia-cơ, Sê-pha, Giăng là những người được tôn như cột trụ, trao tay hữu giao kết với chúng tôi, tức là Ba-na-ba và tôi, hầu cho chúng tôi đi đến cùng dân ngoại, còn các người ấy thì đến cùng những kẻ chịu phép cắt bì. ”
Gia-cơ, Sê-pha và Giăng, những trụ cột của hội thánh đầu tiên, cũng đã cùng hiệp thông với Phao-lô. Họ nhận biết sâu sắc sứ mệnh và những ân tứ Chúa ban cho nhau và cùng tận hưởng sự thông công mật thiết trong Chúa. Vì cùng chia sẻ Tin lành, họ đã đạt được sự hiệp nhất trong tấm lòng và tâm trí. Giải thích điều này cho các tín hữu Ga-la-ti, Phao-lô khẳng định rằng chức vụ sứ đồ của ông đến từ Đức Chúa Trời và Tin lành mà ông rao giảng là sự mặc khải từ Chúa.
Câu 10. “10 Các người ấy chỉ dặn dò tôi phải nhớ đến kẻ nghèo nàn, là điều tôi cũng đã ân cần làm lắm.” ( điều mà chính tôi đã luôn cẩn thận làm ngay từ đầu)
Các vị lãnh đạo hội thánh ở Giê-ru-sa-lem đã yêu cầu Phao-lô và Ba-na-ba “hãy nhớ đến người nghèo”. Điều này có nghĩa là yêu cầu Phao-lô và Ba-na-ba hỗ trợ vật chất cho các tín hữu nghèo ở Giê-ru-sa-lem. Phao-lô và Ba-na-ba đã từng đến thăm Giê-ru-sa-lem với sự viện trợ nhân đạo do các tín hữu từ An-ti-ốt quyên góp (xem Công vụ 11:27-30). Tuy nhiên, lời yêu cầu nhớ đến người nghèo một lần nữa thể hiện hy vọng rằng người ngoại và người Do Thái sẽ tiếp tục hỗ trợ lẫn nhau trong những lúc khó khăn. Thực tế, đây là điều mà Phao-lô đã quan tâm. Sau này, khi Phao-lô đến thăm Giê-ru-sa-lem sau chuyến truyền giáo thứ ba của mình, ông lại chuyển sự dâng hiến của các tín hữu ngoại cho các tín hữu nghèo trong hội thánh ở Giê-ru-sa-lem (xem Rô-ma 15:25-26; 1 Cô-rinh-tô 16:1-3). Qua sự viện trợ này, Phao-lô không chỉ có ý định hỗ trợ thiết thực cho các tín hữu ở Giê-ru-sa-lem mà còn củng cố sự hiệp nhất giữa các tín hữu người ngoại và người Do Thái.
- Cephas đã có hành vi giả hình nào ở Antioch, và hành động của ông đã gây ra tác động tiêu cực nào đối với các anh em (11-13)? Phao-lô đã chỉ ra lỗi lầm của Cephas như thế nào (14)? Tại sao không thể ép buộc người ngoại đạo sống như người Do Thái (15, 16)?
11 Nhưng khi Sê-pha đến thành An-ti-ốt, tôi có ngăn can trước mặt người, vì là đáng trách lắm.
Diễn biến câu chuyện chuyển từ Jerusalem đến Antioch. Phi-e-rơ đến thăm Antioch. Tại đó, Phao-lô công khai quở trách Phi-e-rơ. Tại sao Phao-lô lại công khai quở trách Phi-e-rơ, sứ đồ hàng đầu của Chúa Giê-su và là người phát ngôn của các sứ đồ?
12 Bởi trước lúc mấy kẻ của Gia-cơ sai đi chưa đến, thì người ăn chung với người ngoại; vừa khi họ đã đến thì người lui đứng riêng ra, bởi sợ những kẻ chịu phép cắt bì. 13 Các người Giu-đa khác cũng dùng một cách giả dối như vậy, đến nỗi chính Ba-na-ba cũng bị sự giả hình của họ dẫn dụ.
Phi-e-rơ, qua sự cải đạo của viên đội trưởng La Mã Cornellius, nhận ra rằng Đức Chúa Trời cũng thanh tẩy người ngoại trong Phúc Âm (Công vụ 10:13-15). Từ đó, ông bắt đầu giao tiếp với người ngoại. Khi đến hội thánh ở An-ti-ốt, ông thấy các tín hữu Do Thái và ngoại hòa lẫn và ăn uống tự do, không có bất kỳ hạn chế nào về chế độ ăn uống. Phi-e-rơ cũng thích điều này và ăn uống với người ngoại. Tuy nhiên, khi một số tín hữu Do Thái từ hội thánh của Gia-cơ đến, mặt Phi-e-rơ đột nhiên tối sầm lại. Ông than đau bụng và nhanh chóng rời đi. Có lẽ ông không muốn xung đột với những người Do Thái theo chủ nghĩa luật pháp. Nhưng sự giả hình của một người, Phi-e-rơ, người giữ vị trí lãnh đạo, đã ảnh hưởng sâu sắc đến những người khác. Những người Do Thái khác, khi thấy hành vi của Phi-e-rơ, đã bắt chước theo ông, và ngay cả Ba-na-ba cũng bị cám dỗ bởi sự giả hình của họ. Các tín đồ ngoại bang chắc hẳn đã rất phẫn nộ trước hành vi của Phi-e-rơ và các tín đồ Do Thái. Vì họ bị phân biệt đối xử chỉ vì họ không phải là người Do Thái. Phi-e-rơ luôn nói rằng họ là anh chị em trong Chúa Christ, nhưng ông lại hành động khác, và họ bắt đầu nghi ngờ lời dạy của ông.
Trong Chúa Giê-su sự phân biệt giữa người Do Thái và người ngoại bang đã bị xóa bỏ. Các tín đồ Do Thái không có lý do gì để ngần ngại ăn uống cùng người ngoại bang. Sự việc này có lẽ đã xảy ra trước Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem. Điều quan trọng là nguyên tắc quan trọng này đã được công nhận tại Giáo hội nghị Giê-ru-sa-lem. Họ quyết định không đặt thêm bất kỳ điều răn nào khác của luật pháp lên vai dân ngoại, ngoại trừ một vài điều cấm kỵ, như thờ hình tượng và ngoại tình. (Công vụ 15:14-21) Tuy nhiên, khi các tín hữu từ Giê-ru-sa-lem nhìn thấy họ, họ trở nên sợ hãi và giả hình.
Câu 14. 14 Nhưng khi tôi thấy họ không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành, thì nói với Sê-pha trước mặt mọi người rằng: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa?
Phao-lô thậm chí còn quở trách Phi-e-rơ, người là tảng đá và người lãnh đạo Hội Thánh, khi thấy ông không hành động ngay chính theo lẽ thật của Phúc Âm. Trong việc bảo vệ lẽ thật của Phúc Âm, ông không sợ quyền uy. Bởi vì đối với ông, việc dẫn dắt mọi người đến sự công chính trước mặt Đức Chúa Trời qua lẽ thật của Phúc Âm quan trọng hơn việc duy trì các mối quan hệ cá nhân với người khác. Chúng ta phải đặt lập trường vững chắc về lẽ thật của Phúc Âm lên trên các mối quan hệ cá nhân với người khác.
15 Về phần chúng tôi, thì sanh ra là người Giu-đa, không phải là kẻ có tội từ trong dân ngoại. 16 Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ, nên chính chúng tôi đã tin Đức Chúa Jêsus Christ, để được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ, chớ chẳng bởi các việc luật pháp; vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp.
Phao-lô và Phi-e-rơ vốn là người Do Thái. Tuy nhiên, việc sinh ra là người Do Thái không phải là điều kiện đủ để được cứu rỗi. Theo luật pháp, cả người Do Thái và người ngoại đều phạm tội như nhau trước mặt Đức Chúa Trời. Phao-lô đã trình bày rõ ràng chân lý của Phúc Âm rằng con người được cứu rỗi chỉ bởi đức tin, chứ không phải bởi việc làm.
Sự xưng công chính nhờ đức tin vào Chúa Giê-su Christ chính là Tin lành. Ở đây, “sự xưng công chính” không đề cập đến việc làm của con người mà là mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời. Con người đã phạm tội chống lại Đức Chúa Trời. Vì bản chất sa ngã của mình, con người không thể trở nên công chính, cho dù họ có làm điều thiện và cố gắng sống công chính đến đâu. Vì tội lỗi, con người bị tách rời khỏi Đức Chúa Trời, bị kết án và chịu sự phán xét đời đời. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời là Đấng yêu thương nhân từ. Amen! Đức Chúa Trời đã yêu thương những tội nhân trước. Đức Chúa Trời đã làm gì cho loài người? Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho ai tin Ngài thì không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16). Vì tình yêu thương dành cho tội nhân, Đức Chúa Trời đã ban Con Ngài, Chúa Giê-su, trên thập tự giá làm của lễ chuộc tội cho tất cả chúng ta. Huyết của Chúa Giê-su đã trả giá cho tất cả tội lỗi của chúng ta. Nếu tôi chấp nhận tình yêu của Đức Chúa Trời và tin vào Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời sẽ ban cho tôi sự cứu rỗi để tôi có thể có sự sống đời đời và chấp nhận tôi làm con cái của Ngài. Điều này xảy ra bởi tình yêu thương vĩ đại của Ngài!!! Vì vậy, một người được xưng công chính không phải bởi các việc làm của luật pháp, mà chỉ bởi đức tin vào Chúa Giê-su Christ. Đây là Tin lành về ân điển!! Cho dù một người đã phạm tội hay sai lầm gì, cho dù họ đã đi sai đường đến đâu, họ đều nhận được sự tha thứ nhờ đức tin và trở thành con cái của Chúa.
Ai là con cái của Đức Chúa Trời? Không phải những người gốc Do Thái hay những người trung thành tuân giữ luật pháp. Sự cứu rỗi không đến từ những người tốt hay những người đã làm nhiều việc thiện. Nó đến từ những người khiêm nhường trước Chúa, những người tự nhận mình là tội nhân đáng thương và tin vào tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chấp nhận những người như vậy làm con cái Ngài, cho họ thừa kế vương quốc của Ngài, và nuôi dưỡng họ bằng tình yêu thương. Vì vậy, khi sự cứu rỗi được hoàn thành, chúng ta được mặc lấy hình ảnh của Chúa Giê-su Christ. Đây là chân lý cơ bản của Phúc Âm.
Nếu chúng ta trở thành con cái của Chúa qua đức tin, thì Chúa tiếp tục xây dựng hình ảnh của Chúa Giê-su trong chúng ta qua mọi điều chúng ta trải nghiệm. Đó là lý do tại sao mỗi ngày trong cuộc đời chúng ta đều quý giá và quan trọng. Chúng ta không thể coi bất kỳ ngày nào là vô nghĩa, than phiền hay nguyền rủa. Chúng ta phải biết ơn và lạc quan mỗi ngày.
Hơn nữa, càng tìm kiếm sự công nhận thông qua những thành tựu bên ngoài, cuộc sống của chúng ta càng trở nên cứng nhắc và không có sự phát triển tâm linh. Khi thiếu sự phát triển tâm linh, chúng ta bắt đầu sống hai mặt và trở thành những kẻ đạo đức giả. Khi đời sống đức tin của một người không được xây dựng trên ân điển của thập giá Chúa Giê-su, cuối cùng họ sẽ sụp đổ.
- “Chết đối với luật pháp” nghĩa là gì (17-19)? Phao-lô mô tả đời sống của một tín đồ như thế nào (20)? Tại sao ông không quay lại với luật pháp để được xưng công chính (21)?
17 Nhưng nếu đang khi chúng tôi tìm cách được xưng công bình trong Đấng Christ, mà chính chúng tôi bị nhận là kẻ có tội, vậy thì Đấng Christ chẳng là làm tôi của tội lỗi sao? Chẳng hề như vậy! 18 Thật thế, nếu tôi lập lại điều tôi đã phá hủy, thì tôi sẽ tỏ ra chính tôi là người phạm phép.
“Điều duy nhất chúng ta có thể tin tưởng và trông cậy vào là ân điển của thập tự giá Chúa Giê-su. Tuy nhiên, nếu chúng ta tái lập luật pháp, chúng ta sẽ biến những người được xưng công chính bởi đức tin thành tội nhân. Trong trường hợp đó, Chúa Christ sẽ biến những người tin thành tội nhân. Điều đó không thể xảy ra.”
Đây là một câu hỏi mang tính pháp lý tiêu cực: Bạn tin vào Chúa Giê-su để được xưng công chính, nhưng lại không sống theo luật pháp. Vậy chẳng phải bạn phạm tội sao? Và chẳng phải bạn khuyến khích người khác phạm tội sao? Vậy chẳng phải Chúa Christ là người phục vụ tội lỗi sao? Phao-lô nói: “Tuyệt đối không!” Khi con người được xưng công chính bởi đức tin, họ sẽ không còn phạm tội nữa. Vì vậy, chúng ta không thể buộc tội Chúa Christ khuyến khích con người phạm tội. Chúa Christ không thể là đối tượng bị con người lên án. Tất nhiên, những người tin Chúa cũng có thể phạm tội, nhưng đó là một phần bản chất tội lỗi của con người. Phúc Âm không chỉ xưng công chính cho những người sa ngã, mà còn ban cho họ sức mạnh để trưởng thành về mặt tâm linh và sống một cuộc đời được biến đổi.
19 Vả, bởi luật pháp, tôi đã chết cho luật pháp, để sống cho Đức Chúa Trời.
“Tôi đã chết đối với luật pháp.” Luật pháp đòi hỏi tôi phải chết, nhưng Chúa Giê-su đã hoàn thành mọi điều răn của luật pháp bằng cách chết trên thập tự giá. Vì vậy, tôi đã chết đối với luật pháp. Giờ đây luật pháp không còn quyền lực trên tôi nữa. Tôi đã chết đối với luật pháp để có thể sống cho Đức Chúa Trời. Phao-lô tuyên xưng: “20 Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.”
Phao-lô thú nhận rằng Sau-lơ xưa, một người Do Thái và một người Pha-ri-si, ông ta đã chết. Chết như thế nào? Chúa Giê-su đã chết trên thập tự giá, gánh lấy tất cả tội lỗi của nhân loại. Sự thật này cho chúng ta biết rằng con người cũ của tôi, vốn được định sẵn để chết trong tội lỗi, cũng đã chết trên thập tự giá. “Tôi” ở đây ám chỉ con người cũ, đầy tội lỗi của tôi. Không còn phải là tôi sống nữa, mà là Đấng Christ sống trong tôi.
“Vậy thì bây giờ ai đang ở trong thân thể tôi? nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.” (20) Bây giờ tôi sống một “tôi” mới, và tôi sống bởi đức tin. Nghĩa là, không phải người cũ sống trong thân thể tôi, mà là một người mới, sống bởi đức tin nơi Con Đức Chúa Trời, Đấng đã yêu tôi và phó chính mình vì tôi.
Câu 21: “ 21 Tôi không muốn làm cho ân điển Đức Chúa Trời ra vô ích; vì nếu bởi luật pháp mà được sự công bình, thì Đấng Christ chịu chết là vô ích.”
Đây là câu kết. Nếu chúng ta tìm cách biện minh cho bản thân bằng việc làm của mình, chúng ta phạm một tội trọng, khiến cho sự chết của Chúa Christ trên thập tự giá trở nên vô nghĩa. Chúng ta phải sống bằng đức tin, hoàn toàn dựa vào tình yêu của Chúa. Hơn nữa, chúng ta phải hiểu sâu sắc chân lý này của Tin lành và rao giảng nó. Đây chính là đời sống đức tin.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.