SỰ KHỔ NẠN CỦA CHÚA JESUS (Lu-ca 23:26-33)

SỰ KHỔ NẠN CỦA CHÚA JESUS

Lu-ca 23:26-33

“Nhưng người đã vì tội-lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian-ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa-phạt người chịu chúng ta được bình-an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.” (Ê-sai 53:5).

Các tác giả Phúc Âm không mô tả nhiều về việc Chúa Giê-xu bị đánh đòn. Họ không cần làm vậy, bởi trong toàn Đế chế La Mã thời đó, ai ai cũng hiểu mức độ tàn bạo của hình phạt này. Ê-sai 52:14 cho thấy rằng Chúa Giê-xu đã bị đánh đến nỗi hình dạng của Ngài trở nên ghê rợn, khiến người ta kinh hãi khi nhìn vào. Ngài không còn giống hình dạng của một con người bình thường nữa. Một bản dịch sát nghĩa ghi rằng: “Diện mạo Ngài bị biến dạng đến nỗi không còn giống hình thể của loài người.” Có lẽ đây cũng là lý do vì sao sau khi phục sinh, nhiều người đã không nhận ra Ngài ngay lập tức.

Chúa Giê-xu không chỉ chịu chết vì tội lỗi chúng ta, mà còn chịu đựng khổ hình tột cùng để cứu rỗi chúng ta. Tình yêu của Ngài mạnh mẽ đến mức Ngài chịu đựng không chỉ cây thập tự, không chỉ mão gai, mà còn một trong những hình phạt dã man nhất từng tồn tại trong hệ thống trừng phạt của La Mã.

  1. Cây roi flagrum – công cụ của sự tra tấn

Mục đích của chiếc roi La Mã gọi là “flagrum” là đánh một người đến gần kề cái chết. Nó thực sự lột da thịt khỏi cơ thể. Cây roi này có tay cầm ngắn, nối với ba hoặc nhiều dây da, đầu mỗi dây gắn các vật sắc nhọn như kim loại, mảnh xương, đinh hoặc mảnh sắt. Một số phiên bản còn có móc câu ở đầu roi và được đặt biệt danh ghê rợn là “bọ cạp”.

Những mảnh vụn sắc nhọn từ xương khớp của cừu thường được dùng để gây sát thương. Mỗi lần quất roi, da thịt bị xé toạc, treo lủng lẳng như những dải ruy-băng rướm máu, để lộ các bó cơ, xương, thậm chí là cả nội tạng.

Lính La Mã được huấn luyện chuyên nghiệp để thực hiện việc đánh đòn này. Nạn nhân bị lột trần, trói hoặc cùm vào một cột đá vững chắc, có khi giữa hai trụ. Hai lính đứng hai bên thay nhau đánh liên tục. Theo luật Do Thái, không được đánh quá 40 roi, nên người Do Thái thường dừng lại ở 39 để tránh vô tình phạm tội. Nhưng người La Mã không có giới hạn như vậy. Họ đánh không phải vì số lượng roi, mà là để đẩy nạn nhân đến ranh giới của cái chết – rồi dừng lại.

Sử gia Hội Thánh, Eusebius thành Caesarea, từng ghi lại hình ảnh khủng khiếp này: “Người đứng xem đều kinh ngạc khi thấy thân thể họ bị xé toạc đến tận tĩnh mạch và động mạch sâu thẳm nhất, khiến cả nội tạng và các phần kín đáo của cơ thể đều lộ ra ngoài.” (Lịch sử Hội Thánh, Quyển 4, Chương 15).

Phần roi ngắn giúp người lính kiểm soát tốt hướng đánh, tránh chém trúng cổ – vốn dễ gây tử vong nhanh. Mục đích của hình phạt này là kéo dài sự đau đớn. Nếu muốn nạn nhân chết dần, đôi khi họ nhúng roi vào máu dê để gây nhiễm trùng.

Mất máu trong quá trình này là vô cùng nghiêm trọng. Nhiều nạn nhân ngất đi vì mất máu quá nhiều. Dù lính La Mã cố gắng đánh chính xác, khảo cổ đã tìm thấy hài cốt của những người bị roi quất vào cả mặt và đỉnh đầu. Thông thường, nạn nhân được giữ sống – nhưng đầy thương tích, biến dạng, như một tấm biển sống cảnh báo mọi người: “Đừng chống lại La Mã. Đây là điều sẽ xảy ra nếu các ngươi dám làm vậy.”

Sử gia Josephus Flavius viết rằng nhiều người Do Thái nổi loạn đã bị đánh tơi tả bằng roi trước khi bị đóng đinh.

Trong bộ phim nổi tiếng của đạo diễn Mel Gibson “Cuộc khổ nạn của Chúa Giê-xu”, để vào vai Chúa Giê-su, diễn viên Jim Caviezel đã giảm khoảng 20 kg. Để chuẩn bị cho cảnh quay bị hành hạ bởi những người lính quất các cây roi flagrum vào lưng, và để tái hiện một cách hiện thực nhất cảnh này, anh đã đặt chế tác một chiếc áo lót trong bằng kim loại. Nhưng mặc dù vậy toàn bộ cơ thể bị bầm tím và đau đớn khủng khiếp bởi các lằn roi. Trong một cảnh quay, anh vô tình bị roi quất hai lần, để lại một vết sẹo dài hơn 9 cm trên lưng. Trong lúc vác thập tự giá khi quay phim, anh ấy bị trật khớp vai. Việc phải đứng gần như khỏa thân trên thập tự giá trong nhiều giờ liền giữa thời tiết giá rét đã dẫn đến viêm phổi và hạ thân nhiệt.

Chúa Giê-xu đã chịu trận đòn này đến mức không thể tự mang thập giá. Trên đường tới Gô-gô-tha, Ngài hẳn đã chịu đựng mất máu nghiêm trọng và rơi vào trạng thái sốc. Ngài thở khó nhọc, huyết áp giảm, cơ thể run rẩy, làn da lủng lẳng những vết rách như ruy-băng máu. Không lạ gì khi phụ nữ đi theo Ngài đã òa khóc.

Ngài cũng bị mất nước – hậu quả của việc mất máu trầm trọng. Lưỡi Ngài có thể đã bắt đầu sưng lên do cơ thể rơi vào trạng thái kiệt quệ nghiêm trọng.

 

  1. Hình phạt trên thập tự giá:

Chúng ta cùng xem câu 32-33 “32. Chúng cũng đem hai người đi nữa, là kẻ trộm cướp, để giết cùng với Ngài.33. Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó, cùng hai tên trộm cướp, một tên bên hữu Ngài, một tên bên tả.

Chúa JESUS bị đóng đinh cùng 2 tên trộm cướp. Điều này có 2 ý nghĩa. 1/ Để ứng nghiệm lời tiên tri trong sách Ê-sai 53:12 “… Người sẽ chia của bắt với những kẻ mạnh, vì người đã đổ mạng sống mình cho đến chết, đã bị kể vào hàng kẻ dữ, đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và cầu thay cho những kẻ phạm tội.” 2/ Việc Chúa JESUS bị đóng đinh giữa 2 tên trộm cướp nói lên rằng Ngài là tội nhân khủng khiếp nhất, đáng nguyền rủa nhất. Đáng ra chỗ đó là của chúng ta: của tôi và các anh chị em. Đáng ra chúng ta phải chịu hình phạt đó vì cớ tội lỗi của mình. Nhưng Chúa JESUS đã thế chỗ thay cho chúng ta.

Theo bộ Từ điển Bách Khoa Toàn Thư Anh thì thập tự giá là một hình cụ được dùng để xử tử phạm nhân từ thời xa xưa. Vào khoảng năm 519 TCN, Vua Đa-ri-út Đệ Nhất của Đế Quốc Phe-rơ-sơ đã ra lệnh đóng đinh 3,000 người không cùng chung quan điểm về chính trị với ông vào thập tự giá tại Ba-by-lôn. Cách xử tử này được lưu truyền đến Đế Quốc Hy-lạp, rồi Đế Quốc La-mã. Đến cuối thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, thì hình phạt bị đóng đinh trên thập tự giá trong Đế Quốc La-mã chỉ dành riêng cho những nô lệ và những tội nhân không có quốc tịch La-mã.

Vào thời điểm này thì thập tự giá bao gồm một thanh đứng và một thanh ngang. Thanh đứng được chôn sẵn tại pháp trường (nơi thi hành án). Thanh ngang được lưu trữ tại pháp đình (nơi xử án). Sau khi bản án được tuyên bố thì tội nhân bị đánh đòn, rồi thanh ngang của thập tự giá được đặt ngang trên hai vai của tội nhân, hai cánh tay của tội nhân bị trói vào đó, và tội nhân bị quân lính áp giải từ pháp đình ra pháp trường. Tại pháp trường, thanh ngang của thập tự giá được đặt nằm trên mặt đất, tội nhân bị lột hết quần áo, hai tay bị căng ra và hai cổ tay bị cột vào thanh ngang. Sau đó, mỗi bàn tay bị đóng vào thanh ngang bằng một mũi đinh lớn. Thanh ngang của thập tự giá cùng với thân hình của tội nhân được kéo lên trên thanh đứng của thập tự giá bằng một hệ thống ròng rọc. Khi thanh ngang đã được kéo lên, khớp vào chỗ đã định trên thanh đứng, thì dây kéo được cột vào khoen móc có sẵn trên thanh đứng, và hai bàn chân của tội nhân bị đóng đinh vào thanh đứng. Một số các hình minh họa vẽ hình hai bàn chân của tội nhân bị chồng lên nhau và bị đóng vào thanh đứng của thập tự giá bằng một mũi đinh. Tuy nhiên, minh họa như vậy là không đúng; theo luật La-mã thì tử tội phải bị đóng đinh vào thập tự giá với bốn mũi đinh nơi hai bàn tay hoặc hai cổ tay và hai bàn chân. Ý kiến cho rằng: Đức Chúa Jesus Christ đã bị đóng đinh trên một trụ gỗ đứng (lý luận của Giáo Hội Giê-hô-va Chứng Nhân) chứ không phải trên thập tự giá là không đúng với các tài liệu lịch sử và khảo cổ.

Sau cùng là một tấm bảng ghi tên và tội của tội nhân được đóng vào thanh đứng, phía trên đầu của tội nhân. Khi Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá theo lệnh của Bôn-xơ Phi-lát, Tổng Đốc La-mã của xứ Giu-đê, thì Phi-lát đã cho ghi tên của Ngài là “Jesus người Na-xa-rét” và tội danh của Ngài là “Vua dân Giu-đa”. Vì lúc bấy giờ Đế Quốc La-mã đang cai trị dân Do-thái qua vua bù nhìn – là Hê-rốt, cho nên, hễ ai ngoài Hê-rốt xưng là vua của dân Do-thái thì lập tức bị can tội phiến loạn. Phi-lát làm như vậy để hợp pháp hóa bản án của Chúa, là bản án mà ông buộc phải thi hành bởi áp lực của dân Do-thái, trong khi chính ông đã tuyên bố ông không tìm thấy Ngài có tội chi hết! Nhưng danh xưng “Vua dân Giu-đa” lại chính là một danh xưng của Đấng Messiah. Vô tình Phi-lát lại làm ứng nghiệm lời tiên tri về Chúa JESUS.

Người bị đóng đinh trên thập tự giá có thể sống thoi thóp đến vài ngày, thậm chí cả tuần và bị chim trời rỉa thịt trong lúc còn sống. Họ phải chịu đói, khát, nắng nóng cháy da cháy thịt ban ngày và lạnh đến thấu xương ban đêm. Theo luật La-mã thì xác chết phải bị lưu lại trên thập tự giá để răn đe người khác đừng phạm pháp như tử tội, cho đến khi có lệnh của nhà cầm quyền cho phép lấy xuống. Hình phạt bị đóng đinh trên thập tự giá là một hinh phạt vô cùng đau đớn mà cũng vô cùng nhục nhã, vì tội nhân bị treo trần truồng trước công chúng, tại những nơi dễ nhìn thấy. Tội nhân tiểu tiện tại chỗ. Khi bị treo trên thập giá, sức nặng của cơ thể làm cho các vết đinh đóng trên tay chân bị căng xé khiến tội nhân bị đau nhức cùng cực nhưng không chết.  Tội nhân phải sống để chịu những cơn đau buốt liên tục hành hạ trong một thời gian dài.  Chỉ khi nào tội nhân kiệt sức không thể nâng đầu lên được nữa thì đầu sẽ cúi gằm xuống khiến cằm đụng vào ngực. Lúc đó tội nhân sẽ từ từ bị nghẹt cổ họng và chết vì ngộp thở chứ không chết vì bị chảy hết máu. Nhưng người Do-thái có thể xin phép lấy xác các tử tội Do-thái trước khi mặt trời lặn để tránh sự vi phạm luật pháp của ĐỨC CHÚA TRỜI: “Khi một người nào phạm tội đáng chết, thì hãy giết nó, và treo lên trụ hình, thây nó chớ để treo trên trụ hình cách đêm, song phải chôn trong nội ngày đó; vì kẻ nào bị treo ắt bị ĐỨC CHÚA TRỜI rủa sả. Như vậy, ngươi chẳng làm ô uế đất mà GIÊ-HÔ-VA ĐỨC CHÚA TRỜI ngươi ban cho ngươi làm sản nghiệp” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:22-23). Trong trường hợp đó, người ta đánh gãy ống xương chân của tử tội để cái chết mau đến.

Khi càng tìm hiểu rõ về hình phạt đóng đinh trên thập tự giá chúng ta càng thấy rõ cái giá mà CHÚA GIÊ-XU đã trả để chuộc tội thay chúng ta là lớn như thế nào.

  1. Sự đau khổ tột cùng khi bị Đức Chúa Trời bỏ rơi:

Nhưng sự đau khổ mà Chúa Jesus chịu về thể xác không kể là gì cả so với nỗi đau đớn nội tâm. Sự thống khổ nội tâm là nỗi đau kinh hoàng nhất mà không có sự đau đớn thể xác nào bì được. Đó là nỗi đau khủng khiếp mà Chúa Jesus phải trải qua trên thập tự. Khi Chúa Jesus ở trên thập tự giá, Kinh thánh chép lại 8 tiếng kêu của Ngài. Một trong số đó là “Ê-loi, Ê-loi. La-ma-sa-bach-tha-ni”, nghĩa là “Đức Chúa Trời ơi, tại sao Ngài lìa bỏ tôi”. Con Trời trong cơn quá tuyệt vọng, cô đơn tận cùng, bị tất cả bỏ rơi, trước đó bị môn đồ mình phản bội bán Thầy lấy 30 đồng bạc, còn người môn đệ khác thì chối bỏ Ngài tới 3 lần, vào thời điểm sắp chết cận kề còn bị Đức Chúa Cha lìa bỏ. Vào thời điểm này tất cả tội lỗi của nhân loại bị chất lên thập tự giá, giờ này Đức Chúa Trời nhìn Con Ngài, Ngài chỉ nhìn thấy tội lỗi chồng chất và Ngài thậm chí phải lìa bỏ Con Ngài Vì lúc đó Chúa Jesus đã chiếm lấy chỗ của tội nhân. Ngài là Đấng vô tội, đã phải mặc lấy thân phận của tội nhân đáng bị trừng phạt và ném vào hỏa ngục.

Tiến sỹ y khoa Maurice Rawling trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Từ địa ngục trở về” đã miêu tả lại khoảnh khắc các tội nhân khi chết lâm sàng đã thấy linh hồn mình bị cuốn rơi vào một đường hầm hun hút mà không thể nào thoát ra được. Nỗi sợ hãi và tuyệt vọng cùng cực chiếm hữu tội nhân khi nhận thức được rằng mình sẽ không bao giờ quay về được nữa. Đó là một phần nỗi tuyệt vọng mà Chúa Jesus trong thân phận tội nhân bị Đức Chúa Trời từ bỏ đã cảm nhận được và kêu gào: “Ê-loi, Ê-loi. La-ma-sa-bach-tha-ni”, “Đức Chúa Trời ơi, tại sao Ngài lìa bỏ tôi”.

Khi Chúa Jesus miêu tả về địa ngục, Ngài nói “đó là nơi có khóc lóc và nghiến răng”. Người ta khóc lóc vì quá buồn, đau khổ. Nhưng động từ “nghiến răng ” có một ý nghĩa như sau: người ta nghiến răng vì nuối tiếc, nuối tiếc rằng trong đời tôi đã từng có cơ hội, nhiều cơ hội để tin nhận Chúa Jesus và được cứu rỗi, thế mà tôi cứ từ chối, cứ lươn khươn,… Và sự khổ đau tận cùng, sự tiếc nuối tận cùng đó lại cứ tiếp nối mãi mãi không có kết thúc. Hỏa ngục thật khủng khiếp!

  1. Chúa Giê-xu – tình yêu chịu đựng mọi điều

Chúa Giê-xu đã chịu đựng tất cả. Ngài thực sự “đổ huyết” vì chúng ta. Như Kinh Thánh chép: “Ngài gánh tội-lỗi chúng ta trong thân-thể Ngài trên cây gỗ, hầu cho chúng ta là kẻ đã chết về tội-lỗi, được sống cho sự công-bình; lại nhân những lằn đòn của Ngài mà anh em đã được lành bịnh.” (1 Phi-e-rơ 2:24)

Trong hệ thống tư pháp các thẩm phán phán quyết dựa trên 2 yếu tố: vật chứng và nhân chứng. Để chứng minh tình yêu của Đức Chúa Trời, cần có vật chứng và nhân chứng. Vật chứng đã là một sự kiện lịch sử không thể nào chối cãi: đó là thập tự giá và sự chết của Chúa Jesus. Còn nhân chứng thì có hàng tỷ người sẵn sàng đứng ra. Tôi ngày hôm nay đây cũng là một nhân chứng về tình yêu vô đối của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân. Nhiều năm trước đây trong cơn nghiện ngập và đứng trên bờ vực của sự chết tình yêu của Chúa đã tìm gặp và cứu tôi. Tình yêu Chúa đã biến đổi tôi trở thành một con người mới. Tôi tạ ơn Chúa và nguyện làm chứng nhân rao truyền tình yêu vô đối của Ngài đến trọn đời. Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply