PHƯỚC LÀNH 1: NHỮNG KẺ ĐÓI NGHÈO TÂM LINH

CHÚA ƠI, CON BẤT LỰC

Chương 5-6-7 Tin lành theo Ma-thi-ơ chép lại Bài Giảng Trên Núi ((The Sermon on the Mount), được gọi là Hiến chương Nước Trời (Manifest of the Kingdom of Heaven) không chỉ là nền tảng của Cơ đốc giáo mà còn là một trong những văn bản có ảnh hưởng nhất đến tư tưởng nhân loại. Rất nhiều vĩ nhân, từ các nhà hoạt động hòa bình đến các nhà đại văn hào, đã để lại những nhận xét sâu sắc về bản văn này. Dưới đây là tổng hợp những ý kiến nổi bật nhất:

  1. Leo Tolstoy

Đại văn hào người Nga đã trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần sâu sắc và tìm thấy câu trả lời trong chương 5 của Matthew. Đối với ông, đây là cốt lõi của toàn bộ đức tin.

“Bài Giảng Trên Núi không phải là một lý tưởng xa vời, mà là một hướng dẫn thực tế, trực tiếp cho cuộc sống. Nó là con đường duy nhất dẫn đến hạnh phúc thật sự.”

Tư tưởng của Tolstoy về việc áp dụng triệt để Bài Giảng Trên Núi sau này đã ảnh hưởng trực tiếp đến Martin Luther King Jr. và Mahatma Gandhi.

  1. Mahatma Gandhi

Lãnh tụ tinh thần của Ấn Độ, dù là một người theo đạo Hindu, đã coi Bài Giảng Trên Núi là nguồn cảm hứng lớn nhất cho triết lý “Bất bạo động” (Ahimsa) của mình.

“Bài Giảng Trên Núi đã khiến tôi yêu mến Chúa Giê-su… Khi đọc đến câu ‘Đừng chống cự kẻ ác’, tôi đã vô cùng xúc động. Tôi nhận ra rằng đây chính là chìa khóa để giải phóng con người.”

Có một câu chuyện nổi tiếng kể rằng Gandhi đã nói với cựu Phó vương Anh tại Ấn Độ, Lord Irwin: “Khi đất nước của ngài và đất nước của tôi cùng thực hành những lời dạy của Chúa Jesus trong Bài giảng trên núi này, chúng ta sẽ giải quyết được không chỉ những vấn đề của hai nước chúng ta mà là của toàn thế giới.”

  1. Martin Luther King Jr.

Nhà hoạt động dân quyền Mỹ đã kết hợp tinh thần của Bài Giảng Trên Núi với phương pháp đấu tranh của Gandhi.

“Chúa Giê-su đã mang đến tinh thần và phương pháp; Gandhi mang đến sự vận hành. Bài Giảng Trên Núi là kim chỉ nam cho cuộc đấu tranh không bom đạn của chúng ta.”

Ông tin rằng lời kêu gọi “Hãy yêu kẻ thù” là vũ khí mạnh mẽ nhất để thay đổi xã hội.

  1. Kurt Vonnegut

Nhà văn Mỹ nổi tiếng với phong cách trào phúng và nhân văn đã có một nhận xét rất thẳng thắn:

“Nếu không có thông điệp về lòng thương xót và sự trắc ẩn trong Bài Giảng Trên Núi, tôi sẽ không muốn làm người. Tôi thà làm một con rắn đuôi chuông còn hơn.”

Đối với Vonnegut, những lời dạy của Chúa Giê-su là lý do duy nhất để ông giữ niềm tin vào đạo đức con người trong một thế giới đầy bạo lực.

 

8 phước lành là những phước lành thiên thượng mà con người có thể nhận được và thụ hưởng. Ngày nay có quá ít hội thánh được học một cách kỹ lưỡng 8 phước lành và 10 điều răn. Nhưng quả thật đây chính là nền tảng nhân cách của một người theo Chúa.

Lời cầu nguyện cho bài học này: “Con công nhận rằng con bất lực và không thể  chiến thắng tội lỗi nếu không có Ngài. Con không thể thay đổi bất kể thứ gì trong đời mình và trong cuộc sống của những người thân. Con hoàn toàn đánh mất sự kiểm soát của mình.”

“Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” (Ma-thi-ơ 5:3)

Từ “phước lành”, trong tiếng Hy Lạp, là “makarios”, được sử dụng trong tất cả các lời chúc phúc, là một từ đặc biệt. Từ “phước” ở đây mang nghĩa “Hạnh phúc”, nhưng  từ “hạnh phúc” rất trần gian và ngắn ngủi. Hạnh phúc của trần thế phụ thuộc vào may rủi, vào những thăng trầm của cuộc sống; Cuộc sống và may rủi có thể mang lại hạnh phúc cho một người, nhưng chúng cũng có thể hủy hoại nó.

“Phước” của Chúa Jesus không trần tục, mà cao quý, thiêng liêng, thánh thiện và kéo dài đời đời. “phước” là những phần thưởng phước lành cao quý đến từ Thượng Đế. Từ “makarios” thường đặc trưng cho một niềm vui thiêng liêng ẩn giấu, một niềm vui thanh thản, sâu lắng, không bị ảnh hưởng bởi mọi thăng trầm của cuộc sống. Hạnh phúc của người tin Chúa là điều hoàn toàn riêng tư, nội tại, không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố bên ngoài nào. Chúa Giê-su phán: “Không ai có thể cướp mất niềm vui của các con” (Giăng 16:22). Hạnh phúc là niềm vui thấm đẫm trong chúng ta ngay cả khi đau khổ. Nó không thể bị ảnh hưởng hay hủy hoại bởi nỗi buồn, mất mát, đau đớn hay khổ sở; niềm vui này tỏa sáng đến với chúng ta qua những giọt nước mắt và cả sự sống lẫn cái chết đều không thể cướp đi được. Thế gian có thể tìm thấy niềm vui, nhưng cũng có thể đánh mất nó. Một bước ngoặt của số phận, bệnh tật, sự thất bại của những kế hoạch, hy vọng, thậm chí cả sự thay đổi thời tiết cũng có thể cướp đi những niềm vui mà thế gian có thể ban tặng. Nhưng người tin Chúa Jesus, người bước đi cùng Chúa và ở trong sự hiện diện của Ngài, được ban cho niềm vui thanh thản và bền vững. Sự vĩ đại của Tám Phước ành nằm ở chỗ chúng không phải là những viễn cảnh về một vẻ đẹp tương lai nào đó, cũng không phải là một lời hứa vàng son về một vinh quang tương lai nào đó; chúng là tiếng reo chiến thắng của hạnh phúc và niềm vui bất tận mà không gì trên thế gian có thể cướp đi được.

“Lòng khó khăn” là gì? “Poor in spirit”.

“Khó khăn” ở đây trong nguyên tác có nghĩa khó nghèo, nghèo khổ, bần cùng, dưới đáy xã hội.

Trong cách suy nghĩ của chúng ta những kẻ khó nghèo là những người cùng khổ không còn một phương tiện sống nào cả. Thường thì họ có một mong muốn – khao khát thoát nghèo và được trở nên giàu có. Họ sẽ luôn hạ mình và khiêm nhường, vì họ biết họ nghèo không có gì để kiêu ngạo. Nếu người khác cho họ một cái gì đó, họ luôn khiêm nhường tiếp nhận với lòng biết ơn. Trong thái độ với người khác họ luôn cho rằng người khác cao hơn họ. Họ nhận biết tình trạng bất lực của mình, họ không thể tự mình thoát được cảnh nghào, và sẵn sàng chìa tay xin sự thương xót của người khác.

Có những người nghèo, nhưng lại không nhận thức được. Họ kiêu ngạo, không hạ mình khiêm nhường. Khi có người chìa tay ban cho sự giúp đỡ, họ kiêu ngạo ngẩng cao đầu không thèm nhận “tưởng tôi nghèo à”, hoặc nhận với lòng không biết ơn.

Vậy thì ai là “kẻ có lòng khó khăn”? Đó là những người có tâm linh nghèo khó thiếu thốn. Đây là những người công nhận sự hoàn toàn bất lực của mình. Cụm từ này được áp dụng hay miêu tả 2 trường hợp, 2 tuýp người.

1/ “Kẻ có lòng khó khăn” – đó là những con người bị đánh cắp đi tất cả những gì quý giá nhất, mất cả hạnh phúc cuộc đời. Giống như người nghèo luôn khao khát được giàu có, thì người nghèo khó về mặt tâm linh cũng đi tìm kiếm cơ hội để lấy lại niềm vui, hạnh phúc sức khỏe đã bị đánh cắp. Điều quan trọng là người đó có thể công nhận sự bất lực của mình trước Chúa và đồng̀ ý với việc là anh ta không thế̉ tự mình làm được điều đó và thay đổi hoàn cảnh. Nhận biết được tình trạng thật, tình trạng hoàn toàn bất lực của mình trước mặt Chúa. Nếu như người nghèo khổ chìa tay ra để xin sự thương xót ở những người mà có một cái gì để cho, thì chúng ta, những người nghèo khổ về mặt tâm linh, cần phải hạ mình xuống trông cậy vào Đức Chúa Trời và cầu xin sự thương xót nơi Đấng có thể làm cho chúng ta giàu có về mặt tâm linh.

Vì vậy, “Phước cho người nghèo khó về tâm linh” có nghĩa là: Phước cho người nào nhận ra sự bất lực tuyệt đối của mình và chỉ tin cậy nơi Thiên Chúa.

2/ “Kẻ có lòng khó khăn” – cũng được áp dụng cho chúng ta nữa, là những người khiêm nhường, luôn khiêm tốn học hỏi từ người khác. Khi chúng ta cho rằng chúng ta thiếu thốn về tâm linh, chúng ta luôn khiêm nhường học hỏi. Nhà triết gia Hy Lạp cổ đại Socrates (theo ghi chép của Plato) “tôi biết là tôi không biết gì cả – I know that I know nothing”. Đó là khi nhà tiên tri Delphi tuyên bố Socrates là người khôn ngoan nhất, khiến ông bắt đầu tìm hiểu và nhận ra rằng sự khôn ngoan thực sự nằm ở việc nhận thức được sự thiếu hiểu biết của bản thân, còn hơn những người tự cho mình là biết nhưng thực chất không có kiến thức sâu sắc.  Người nghĩ rằng mình biết hết rồi thì không cần học. Cái gì cũng biết nhưng mỗi có một điều là không biết là “không biết điều”.

“Người có lòng khó khăn” là người nhận thức được và công nhận tình trạng thuộc linh thật của mình, chấp nhận và công bố sự bất lực của mình. “Người không có lòng khó khăn” – là người có tính tự chủ cao, có tính kiểm soát cao, người luôn cố tự nỗ lực – là những người đang cố chứng minh mình chưa bất lực.

Đức Chúa Trời gọi những người nghèo khổ về mặt tâm linh là có phước, nghĩa là có hạnh phúc, điều đó có nghĩa là nếu gia đình của bạn bị trộm cắp, đời sống đầy dẫy nan đề, điều đó có nghĩa là bạn có phước. Bạn có biết tại sao không? Bởi vì bạn có lối thoát. Chính Chúa Giê-Xu đến mặt đất này không phải cho người khỏe mạnh mà để cho người bị bệnh, không phải cho người công bình mà để cho những tội nhân. Chúa Giê-xu đến để giúp đỡ những người mà tâm linh bị ma quỷ trộm cắp. Con Trời đã từ bỏ Thiên Đàng vì chúng ta, những kẻ bị tuyệt vọng vì không lối thoát, vì đã quá mỏi mệt  đấu tranh với những nan đề của cuộc đời. Hôm nay Ngài đang nói với bạn: “Nếu con đang học về 8 Phước lành ngày hôm nay, thì tình thế của con chưa đến tuyệt vọng. Con vẫn còn cơ hội. Tất cả những gì ma quỷ cố sử dụng để chống lại con, Ta có thể làm thành điều tốt có ích cho con. Con sẽ hạnh phúc, nếu như con công nhận sự bất lực của mình và đồng ý rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể tái lập lại cuộc đời của con và của gia đình con”.

Việc công nhận sự bất lực của mình trước mặt Chúa – đó là một bước rất quan trọng mà mỗi người cần phải làm. Chúng ta bất lực khi tự mình giải quyết bất kỳ một nan đề nào, và không quan trọng đó là nan đề nghiện ngập, tài chính, hôn nhân hay là một cái gì khác.

“Nếu Ðức Giê-hô-va không cất nhà, Thì những thợ xây cất làm uổng công. Nhược bằng Ðức Giê-hô-va không coi-giữ thành, Thì người canh thức canh luống công. Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm, đi ngủ trễ, Và ăn bánh lao khổ; Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy ” (Thánh Thi 127:1-2)

Nếu Chúa không xây nhà của bạn, cuộc sống của gia đình bạn, thì bạn sẽ uổng công vô ích xây dựng nó, sẽ uổng công vô ích để cố gắng xây dựng tổ ấm gia đình. Việc giáo dục con cái của bạn cũng sẽ vô ích nếu như bạn giáo dục chúng không có Chúa. Thậm chí một đứa trẻ được giáo dục tốt có thể trở thành một người ích kỷ đến mức sẽ dễ dàng “chà đạp” lên chính bạn. Mặc dù bạn giáo dục con cái mình có nghiêm khắc mấy đi chăng nữa,  thì sự kiểm soát của bạn cũng sẽ vô ích.

“2. Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm, đi ngủ trễ, Và ăn bánh lao khổ; Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy.” (Thánh Thi 127:2.)

Chỉ khi bạn ngừng kiểm soát mọi thứ, kiểm soát tình thế trong gia đình bạn và giao phó mọi sự cho Chúa và bạn nhường chỗ cho Chúa, thì chỉ khi đó bạn sẽ được  ngủ ngon.

Tôi đã nghe nhiều lời làm chứng là khi cha mẹ và các bà vợ hành động như thế và Đức Chúa Trời đã can thiệp vào hoàn cảnh của họ. Ví dụ, bà vợ của một người nghiện rượu là một người rất khôn ngoan. Khi được học ở trung tâm cai nghiện là cần phải giao phó chồng mình cho Chúa và làm việc với bản thân mình thì đã hành động như sau: cô đi đến hiệu thẩm mĩ để thay đổi bộ tóc của mình. Do vậy cô ta trở nên xinh đẹp và trẻ ra hai mươi tuổi. Sau đó cô ta đi về nhà. Thay vì quát mắng người chồng nát rượu đã mang hết đồ khỏi nhà đi bán, cô ta đã nói: “em yêu anh trong tình yêu của Cứu Chúa Giê-xu Christ”. Buổi sáng người chồng thức dậy, đợi một cuộc cãi vã như thường lệ: “bây giờ thì cái con rắn độc này sẽ phùng mang ra mà phì”. Và bỗng nhiên, người vợ ăn mặc rất diện, xinh đẹp và tươi cười bước vào phòng: “chào anh, anh yêu! Em tạ ơn Chúa vì anh. Anh có muốn ăn điểm tâm không?” Các bạn có thể tưởng tượng ra phản ứng của người chồng đã quen nhìn thấy vợ mình theo một kiểu, còn bây giờ thì thấy vợ mình hoàn toàn thay đổi? Cô không để ý đến những hành vi say xỉn của anh ta. Cô không la lối. Thái độ của cô đối với chồng đã thay đổi, bây giờ nếu như ông ta bị say nằm lăn ra trước cửa thì ông ta có thể nằm đấy cho đến sáng. Cô sẽ không lôi ông ta vào bởi vì đã giao phó ông ta cho Chúa: “nếu như Chúa cho phép để chồng say đến mức độ như vậy thì có nghĩa là cần phải như vậy”. Không cần phải vác chồng say về nhà. Cứ để mặc kệ cho ông ta thức dậy ở cái nơi mà ông ta ngã xuống và suy nghĩ là mình sống như thế nào. Hãy hành động như người phụ nữ khôn ngoan này. Mặc dù như thế nào đi chăng nữa hãy làm việc của mình. Nếu như có cái gì đấy để nấu ăn – thì hãy nấu. Nếu không có – thì hãy nấu nước sôi. Hãy tự uống nước sôi và cho chồng mình uống. Thậm chí có một miếng cơm cháy cũng hãy chia đôi. Hãy để cho ông chồng cảm nhận được mức độ sa ngã của mình và tình yêu của bạn đối với ông ta. Bằng cách khác, nếu bạn sẽ giúp đỡ ông ta thì ông ta sẽ không bao giờ để ý thấy sự thay đổi trong đời sống của bạn và không bao giờ nhìn thấy ánh sáng mà Chúa đã thắp lên trong bạn.

“Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.” (Ma-thi-ơ 5:16)

Sự sáng của bạn cần phải toả sáng đến những người xung quanh bạn. Những việc lành của bạn sẽ tăng công suất năng lượng của ánh sáng, ánh sáng này sẽ xua tan bóng tối mà không cần phải nói: “sự tối tăm hãy cút đi”, sự sáng sẽ chiếu sáng bởi vì trong bạn Đức Thánh Linh đang sống. Ngài sẽ chiếu sáng ngôi nhà của bạn mà người thân của bạn có muốn điều đó hay không. Bạn thậm chí không cần phải nói gì cả, ánh sáng sẽ tự thay đổi bầu không khí và toả sức nóng. Nhưng để làm được điều đó, bạn cần phải ngừng lằm bằm than vãn, thoá mạ chồng, con mình và tự ái. Hãy giải thoát khỏi tất cả những gì mà không đem lại ân điển của Chúa trong đời sống của bạn, và khi đó năng lực sự sáng của bạn sẽ tăng trưởng.

Một lần tôi nghe một câu chuyện. Một nhà truyền giáo người Mỹ nổi tiếng, trước kia là một kẻ nghiện rượu. Ông là một người chồng thô bạo đã đánh đập vợ mình một cách tàn nhẫn, người vợ bắt đầu đi hội thánh và bền đỗ cầu nguyện cho sự cứu rỗi của chồng mình. Một lần nọ, anh ta uống rượu say và dí khẩu súng vào đầu vợ mình, tuyên bố: “nếu mày mà còn đi hội thánh, thì tao sẽ giết mày”. Cô trả lời: “nếu anh giết em, em sẽ đi về với Chúa, còn nếu anh không giết em, thì em sẽ đi hội thánh”. Trong ngày đó cô đã đi đến hội thánh, nhưng khi trở về, chồng không cho cô vào nhà. Mặc dù lúc đó là mùa thu, ngoài trời mưa tầm tã, người phụ nữ buộc phải qua đêm dưới mái hiên nhà mình. Buổi sáng khi người chồng ra khỏi nhà để đi làm, người vợ chào đón chồng bằng những lời như sau: “Anh yêu, hãy đợi em chút, em sẽ chuẩn bị bữa sáng cho anh”. Người chồng đã quỳ gối trước cô cầu xin sự tha thứ, và ngay lúc đó đã ăn năn trước mặt Đức Chúa Trời.

Sự ăn năn là con đường duy nhất dẫn con người đến với Đức Chúa Trời, và trước khi bạn có thể giao phó gia đình mình cho Chúa, chính bạn cần phải ăn năn tội lỗi của mình và làm hoà với Chúa. Tôi xin đề nghị bạn cầu nguyện lớn tiếng lời cầu nguyện sau:

“Lạy Chúa, con bất lực để có thể thay đổi một cái gì đó trong đời sống con. Con công nhận rằng con bất lực trước mặt Ngài. Con hoàn toàn đánh mất sự kiểm soát trên con và cuộc đời con. Con tin nhận rằng Ngài đã chết vì tội lỗi con, đã sống lại từ cõi chết, đã thăng lên trời và làm Chúa của muôn loài, nghĩa là cũng là Chúa của con. Lạy Chúa, con ăn năn tất cả những tội lỗi của mình, mà con biết và không biết, thấy được và không thấy được. Con ăn năn là đã trông cậy vào sức mình và đã kiểm soát người thân của mình. Con từ bỏ mọi sự kiểm soát và từ chối kiểm soát người khác. Con giao phó tất cả gia đình con nơi Ngài, lạy Chúa; con tiếp nhận một quyết định chắc chắn là con sẽ đi theo Ngài, và chỉ theo Ngài mà thôi. Vĩnh biệt tất cả những buồn bực!  Vĩnh biệt cuộc đời xấu xa! Vĩnh biệt địa ngục! Tôi đi theo Chúa Cứu Thế Giê-xu Christ đến với Cha Thiên Thượng và tuyên xưng Chúa Giê-xu là Cứu Chúa và Chủ của đời tôi. A-men.

 

Be the first to comment

Leave a Reply