HÒM GIAO ƯỚC VÀ THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM (Xuất Ê-díp-tô ký chương 25:10-22, 28-31)

Xuất Ê-díp-tô ký. Bài 21.

HÒM GIAO ƯỚC VÀ THẦY TẾ LỄ THƯỢNG PHẨM

Xuất Ê-díp-tô ký chương 25:10-22, 28-30

Câu khóa 28:35

Qua bài học tuần trước chúng ta nhận biết tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Trời đã ban ân điển Ê-ma-nu-en cho tội nhân qua việc xây dựng đền tạm. Đức Chúa Trời rất yêu thương chúng ta và Ngài muốn ở cùng, ở giữa chúng ta để tương giao với chúng ta. Qua sự chết và sự phục sinh của CHÚA JESUS mà Đức Thánh Linh đã đến ngự vào trong mỗi chúng ta và biến thân thể của chúng ta thành đền thánh cho Đức Chúa Trời. Giờ đây chúng ta luôn luôn kinh nghiệm được ân điển Emanuen mỗi lúc mỗi nơi.

Bài học hôm nay nói về ý nghĩa của hòm giao ước và chức vụ của thầy tế lễ thượng phẩm. Cầu xin Đức Thánh Linh ban ân điển của sự khải thị cho mỗi chúng ta. Amen.

1. Hòm giao ước và nắp thi ân (25:10-22):

Đền thánh – đó là nơi gặp gỡ với Đức Chúa Trời. Trong đền thánh nơi quan trọng nhất – đó là nơi chí thánh. Và trong nơi chí thánh vật quan trọng nhất là hòm giao ước.

Hòm giao ước có 3 ý nghĩa: 1) hòm giao ước, 2) hòm của sự khải thị vì đựng bảng đá khắc lời Đức Chúa Trời, 3) hòm bảng chứng giữ bằng chứng về việc giao ước được ký kết giữa Đức Chúa Trời với ISRAEL. Tại sao lại có 2 bảng đá giống nhau? Khi ký kết hợp đồng, luôn có 2 bản như nhau: một bản cho Môi-se và dân ISRAEL, bản kia là của Đức Chúa Trời.

Trong hòm giao ước điều quan trọng nhất là nắp thi ân. Chúng ta đọc Xuất Ê-díp-tô ký 25:21-22 “Ngươi hãy để nắp thi ân trên hòm, rồi để vào trong hòm bảng chứng mà ta sẽ ban cho. 22 Ta sẽ gặp ngươi tại đó, và ở trên nắp thi ân, giữa hai tượng chê-ru-bin, trên hòm bảng chứng, ta sẽ truyền cho ngươi các mạng lịnh về dân Y-sơ-ra-ên.” Trên cả hai đầu nắp thi ân có hai tượng chê-ru-bim sè cánh ra, che trên nắp thi ân, đối diện nhau và xây mặt vào nắp thi ân. Đức Chúa Trời hiện diện trên nắp thi ân ở giữa hai chê-ru-bim và phán với con người. Vinh hiển của sự hiện diện của Chúa thật vĩ đại. Không thể nào diễn tả được bằng ngôn ngữ loài người. Hơn thế nữa, khi mà vinh hiển được phản chiếu bởi vàng tinh sạch. Làm thế nào có thể miêu tả được? Đó là vinh hiển của Đức Chúa Trời hiện diện trên ngôi ơn phước. Rất ít ai được nhìn thấy. Kinh thánh chép chỉ có Môi-se, Ê-sai, Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ. Trong Tân Ước có một chỗ miêu tả lại cảnh tượng giống vậy (Giăng 20:11-12). Khi CHÚA JESUS phục sinh, vinh hiển của Đức Chúa Trời đầy dẫy. Trên ngôi mộ trống có 2 thiên sứ, giống như 2 chê-ru-bim trên nắp thi ân. Một số nhà thần học giải thích rằng đó là đền thánh trong ngôi mộ.

Nắp thi ân có 3 ý nghĩa: 1) Nắp đậy hòm giao ước; 2) nơi chuộc tội: là nơi thầy tế lễ đổ huyết con sinh tế để chuộc tội (Lê-vi 16:13-14)  3) ngôi ơn phước: được tác giả thơ Hê-bơ-rơ gọi như vậy trong Hê-bơ-rơ 4:16.

Những thứ còn lại thì không cần phải nghiên cứu sâu. Vì đền thờ đã biến mất, và chúng ta cũng không còn cần phải dâng của tế lễ chuộc tội nữa. Thầy tế lễ thượng phẩm cũng không còn cần thiết nữa khi CHÚA JESUS chết và phục sinh. Tất cả những điều này không cần thiết nữa vì đền thờ và việc dâng của lễ chuộc tội đã được hoàn thành và kết thúc bởi CHÚA JESUS.

2. Thầy tế lễ thượng phẩm:

Ngoài ngôi ơn phước ra, thì thầy tế lễ thượng phẩm đóng vai trò quan trọng hơn cả.

Chúng ta nhớ lại câu chuyện Xuất Ê-díp-tô ký và tình trạng thuộc linh của dân ISRAEL. Đức Chúa Trời bởi quyền năng của Đấng Tạo Hóa đã cứu dân ISRAEL ra khỏi kiếp nô lệ. Trong chương 19 bởi ân điển lớn lao Ngài tiếp nhận họ làm dân thánh của Ngài, là vương quốc của các thầy tế lễ. Họ đã được rảy huyết để nên thánh, Đức Chúa Trời đã ký kết giao ước với họ trong chương 24. Rồi Ngài phán dạy xây dựng đền tạm để Ngài ngự xuống ở cùng họ. Nhưng họ đã thực sự trở thành thánh nhân chưa? Chưa. Họ vẫn còn đầy tội lỗi, tư tưởng nô lệ, sự lằm bằm, tham dục… Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết, không ai có thể đến được với Ngài nhờ sự tự xưng công bình. Cho nên Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho họ một con đường để đến với Ngài thông qua một thầy tế lễ thượng phẩm. Đó là lý do tại sao Ngài lại đặt ra chức vụ này. Thầy tế lễ thượng phẩm – đó là hình bóng về Chúa Jesus Christ. Chúng ta là tội nhân và không thể nào đến được trước mặt Đức Chúa Trời nếu không thông qua thầy tế lễ thượng phẩm CHÚA JESUS.

Từ chương 28 đến 31:11 là những chỉ dẫn về thầy tế lễ thượng phẩm. Áo thánh của thầy tế lễ được miêu tả chi tiết trong chương 28-30. Có 4 điểm quan trọng ở đây:

1/ Chức vụ này không thể do con người tự đặt nên, hoặc tự chọn theo kiểu biểu quyết. Là do chính Đức Chúa Trời đặt nên. Chúng ta xem 28:1 “Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên, ngươi hãy chọn A-rôn, anh ngươi, cùng các con trai ngươi, là Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, và Y-tha-ma, lập lên làm chức tế lễ trước mặt ta.

2/ Thầy tế lễ thượng phẩm cần phải mặc áo thánh được thiết kế cách đặc biệt để được vinh hiển đẹp đẽ. Chúng ta xem câu 28:2 “Ngươi hãy chế bộ áo thánh cho A-rôn, anh ngươi, để người được vinh hiển trang sức.

3/ Thầy tế lễ thượng phẩm phải hiến mình để phục vụ dân sự. Chúng ta xem câu 9-10 “Ngươi hãy lấy hai viên bích ngọc mà khắc các tên con trai Y-sơ-ra-ên ở trên: 10 sáu tên trên viên bích ngọc nầy, sáu tên trên viên bích ngọc kia, tùy theo thứ tự ngày sinh của họ.” Hai viên bích ngọc có khắc các tên con trai Y-sơ-ra-ên ở trên. Và hai viên ngọc này gắn trên hai đai ê-phót. Có nghĩa là thầy tế lễ thượng phẩm đến trước mặt Đức Chúa Trời với gánh nặng tội lỗi của tất cả 12 chi phái ISRAEL, luôn cầu thay cho tất cả dân sự trong trái tim mình.

4/ Thầy tế lễ thượng phẩm phải mang bảng đeo ngực về sự xét đoán. “Trên bảng đeo ngực của sự xét đoán, ngươi hãy gắn u-rim và thu-mim vào, đặng khi A-rôn đến trước mặt Đức Giê-hô-va thì các món đó sẽ ở trên lòng mình. Ấy vậy, trước mặt Đức Giê-hô-va, A-rôn sẽ mang sự xét đoán của con trai Y-sơ-ra-ên trên lòng mình luôn luôn.” (28:30) U-rim và thu-mim tượng trưng cho sự xét đoán. Nếu có ai đó phạm tội, anh ta phải đi đến với thầy tế lễ thượng phẩm và xưng tội. Thầy tế lễ nghe lời xưng tội và đem của tế lễ chuộc tội thay anh ta, và cầu nguyện xin sự tha tội cho anh ta. Rồi thầy tế lễ thượng phẩm đưa ra sự đoán xét, cho nên ông phải có tấm lòng của Đức Chúa Trời.

Urim – nghĩa là ánh sáng, thumim – nghĩa là sự hoàn mỹ. Sự sáng và sự hoàn mỹ – đó là bản chất của Đức Chúa Trời. Kích thước và chất liệu là gì thì không có ghi chép lại. Người ta giả định có thể là bảng đá, hoặc là miếng xương. Các bác học đưa ra giả thuyết là có lẽ thầy tế lễ thượng phẩm tung nó trước mặt Đức Chúa Trời để hỏi biết ý muốn của Ngài (Dân số ký 27:21; 1 Samuen 28:6).

Chúng ta xem câu 28:31-35. Đức Chúa Trời ra lệnh phải gắn những chiếc chuông vàng vào áo ê-phót, để khi thầy tế lễ thượng phẩm hầu việc trong nơi chí thánh thì có thể nghe thấy tiếng chuông. Còn nếu không có tiếng chuông thì nghĩa là ông ta đã chết. Làm thế nào mà thầy tế lễ thượng phẩm lại chết được trong nơi chí thánh? Điều đó có nghĩa gì? Thầy tế lễ thượng phẩm mang trên mình tội lỗi của cả dân sự và vào nơi chí thánh. Mà nếu ông ta chết, điều đó có nghĩa là ông ta chưa nhận được sự tha tội. Sự kiện kinh sợ này có nghĩa là sẽ có tai họa xảy ra cho dân sự.

Khi thầy tế lễ thượng phẩm bước vào nơi chí thánh, tất cả đoàn dân đều đứng ngoài đền tạm nín thở lắng nghe. Nếu họ nghe thấy tiếng chuông, thì tất cả đều thở phào bình an. “Ô, ông ta đang dâng của lễ chuộc tội. Đức Chúa Trời đã tiếp nhận …” Nhưng nếu đột ngột không có tiếng chuông kêu, thì tất cả dân chúng thậm chí không thể thở vì sợ hãi. Kinh thánh có chép lại một số trường hợp như vậy: Lu-ca 1:21, 2 Sử ký chương 26.

Lời gì phải được khắc trên thẻ treo trên trán thầy tế lễ? Chúng ta xem câu 28:36-38 “Ngươi cũng hãy làm một cái thẻ bằng vàng ròng, trên đó khắc như người ta khắc con dấu, rằng: Thánh Cho Đức Giê-hô-va. 37 Rồi lấy một sợi dây màu tím buộc thẻ đó để trên đằng trước cái mũ. Thẻ đó sẽ ở trên trán A-rôn; A-rôn gánh tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên phạm trong khi họ dâng của lễ thánh; thẻ đó sẽ ở nơi trán A-rôn luôn luôn, để dân sự được đẹp ý Đức Giê-hô-va.” Mặc dù dân sự có lòng thành dâng của lễ cho Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn có thể phạm tội, trong nguyên tác ở đây dịch là “sự thiếu hụt của các của lễ”. Có nghĩa là mặc dù tôi cố gắng dâng những của lễ hoàn hảo nhất cho Chúa, nó vẫn bị thiếu hụt, không thể xứng với sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Có nghĩa là không ai có thể đến trước Đức Chúa Trời với sự công bình của riêng mình. Vì vậy chúng ta rất cần sự phục vụ của thầy tế lễ thượng phẩm.

Thánh Cho Đức Giê-hô-va” – trong những lời này chính là sứ mệnh của thầy tế lễ thượng phẩm – phải hướng dẫn làm cho dân sự nên thánh trước mặt Đức Chúa Trời.  Để làm điều đó ông đi vào nơi chí thánh với của tế lễ chuộc tội. Và đây là điều quan trọng nhất ở đây – ông phải đi ra được khỏi đó (28:35). Mà ông đi ra khỏi đó chỉ khi của lễ chuộc tội được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Đây cũng chính là ý nghĩa của sự phục sinh của CHÚA JESUS.

Chúng ta xem Hê-bơ-rơ 9:11-12 “Nhưng Đấng Christ đã hiện đến làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau nầy; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời nầy. 12 Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.

CHÚA JESUS là sự kết thúc của tất cả những sự dâng của tế lễ chuộc tội và thầy tế lễ thượng phẩm thời Cựu Ước. Bằng sự chết trên thập tự giá Ngài đã đem tất cả tội lỗi của chúng ta vào nơi chí thánh, đổ huyết ra để chuộc tội. Vào ngày thứ ba Ngài đã phục sinh, Ngài sống lại và đi ra khỏi nấm mồ. Các nhà thần học giải thích rằng sự phục sinh của CHÚA JESUS khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã chấp nhận của lễ chuộc tội của Ngài.

Đức Chúa Con trên thập tự giá đã kêu lên: “mọi việc đã được trọn”, và vào ngày thứ ba Đức Chúa Cha trả lời “amen” bằng sự phục sinh Con Ngài. Như vậy, cứ mỗi lần chúng ta nhìn vào CHÚA JESUS phục sinh, chúng ta được vững mạnh trong đức tin: “Ô, tất cả tội lỗi của tôi đã được tha thứ!” Giả sử CHÚA JESUS khi chết trên thập tự giá đã nói: “mọi sự đã được trọn”, mà Ngài lại không ra khỏi được nấm mồ thì sao? Thật bất hạnh cho những kẻ tin vào Ngài, vì họ cũng sẽ chết.

Nhưng CHÚA JESUS bước vào đền thánh bằng huyết của Ngài và phán: “mọi sự đã được trọn”, và đến ngày thứ ba Ngài bước ra khỏi nấm mồ và ban cho tôi sự tha tội đời đời.

Đức Chúa Trời mỗi ngày vẫn tiếp nhận sự thiếu hụt trong những của lễ của tôi dâng lên Ngài, Ngài không nhìn vào sự thiếu hụt đó, mà nhìn vào sự thánh khiết công bình của CHÚA JESUS, là Thầy tế lễ thượng phẩm của tôi. Chúng ta xem Hê-bơ-rơ 4:15-16 “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. 16 Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.

Tạ ơn và ngợi khen Đức Chúa Trời là Cha ân điển nhân từ ban cho chúng ta ơn phước vĩ đại này. Đấng đã cứu chúng ta ra khỏi nô lệ cho tội lỗi, sự chết và ban cho chúng ta con đường cứu rỗi và phước hạnh đời đời nhờ Thầy tế lễ thượng phẩm Jesus Christ. Tôi muốn kết thúc bài giảng hôm nay bằng những câu Kinh thánh sau.

Hê-bơ-rơ 10:11-14 “Phàm thầy tế lễ mỗi ngày đứng hầu việc và năng dâng của lễ đồng một thức, là của lễ không bao giờ cất tội lỗi được, 12 còn như Đấng nầy, đã vì tội lỗi dâng chỉ một của lễ, rồi ngồi đời đời bên hữu Đức Chúa Trời. 13 từ rày về sau đang đợi những kẻ thù nghịch Ngài bị để làm bệ dưới chân Ngài vậy. 14 Vì nhờ dâng chỉ một của tế lễ, Ngài làm cho những kẻ nên thánh được trọn vẹn đời đời. ”

Be the first to comment

Leave a Reply