HÃY GIỮ MÌNH KHỎI MEN PHA-RI-SI (Mác 8:1-15)

HÃY GIỮ MÌNH KHỎI MEN PHA-RI-SI
Mác 8:1-15
Câu khóa 8:15
Trong bài học lần trước Mác miêu tả lại 2 sự kiện rất cảm động:
1. Sự chữa lành đứa con gái của người đàn bà Syrophenixi.
2. Sự chữa lành người câm ngọng.
Hai sự kiện này có ý nghĩa đặc biệt: CHÚA JESUS ban ân điển cho người ngoại. CHÚA JESUS là bánh từ trời xuống để ban thức ăn sự sống cho nhân loại. Trong phân đoạn Kinh thánh hôm nay Mác miêu tả lại 2 sự kiện:
1. Hóa bánh cho 4000 người ăn. Cho chúng ta thấy quyền năng của Đấng Tạo Hóa.
2. Tranh luận với người pha-ri-si về dấu lạ từ trời (8:10-13).
Sau các sự kiện này là chuyến đi thuyền lần thứ 3. Trong chuyến đi này CHÚA JESUS phán dặn các môn đồ giữ mình khỏi men người pha-ri-si. Cầu xin Đức Thánh Linh soi dẫn tâm trí của chúng ta khi học lời Chúa ngày hôm nay để chúng ta nhận được sự khải thị cá nhân từ Chúa. Amen.
I. CHÚA JESUS hóa bánh cho 4 ngàn người ăn (1-10)
1. Tại sao CHÚA JESUS lại phán “Ta thương xót đoàn dân này”? (1-3) Tại sao CHÚA JESUS lại bàn luận về chuyện này với các môn đồ?
Chúng ta xem câu 1-3 “Những ngày đó, lại có một đoàn dân đông theo Đức Chúa Jêsus. Vì chúng không có chi ăn, nên Ngài kêu các môn đồ mà phán rằng: 2 Ta thương xót đoàn dân nầy: vì đã ba ngày nay, không rời bỏ ta, và chẳng có gì ăn. 3 Nếu ta truyền cho nhịn đói trở về nơi họ ở, dọc đường chắc sẽ kém sức, vì có mấy người đã đến từ nơi xa. ” Trong sự kiện này chúng ta thấy rất rõ ràng sự thương xót của CHÚA JESUS đối với con người. CHÚA JESUS rất tinh tế để ý đến từng nhu cầu nhỏ nhặt của con người. Ngài nhìn thấy họ đã 3 ngày ở cùng Ngài, và bây giờ đường trở về nhà xa xôi. Ngài động lòng thương xót họ một cách thực tế. Chúng ta cũng học ở đây sự thương xót không phải ở trên môi miệng, mà bày tỏ trong hoàn cảnh thực tế. Chúng ta nhớ lại câu chuyện về người Samari nhân lành. Lu-ca 10:30-35 “Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. 31 Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. 32 Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi. 33 Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; 34 bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. 35 Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.” Sự việc này chắc là xảy ra vào ngày sa-bát, bởi vì như chúng ta thấy là trên đường vắng, không có ai. Chỉ có 3 loại người đi ra đường vào ngày hôm đó: thầy tế lễ, người Lê-vi và người samari là người ngoại. Thầy tế lễ và người Lê-vi chắc là đang vội vã trên đường đến đền thờ để lo về việc thờ phượng, do đó họ rất bận, và mặc dù nhìn thấy người bị hại rất cần sự giúp đỡ, nhưng sợ rằng sẽ bị đến trễ giờ thờ phượng, nên họ đã đi qua. Còn người Samari bị kể như là dân ngoại thì cũng không quan tâm đến quy tắc của ngày sa-bát, nhưng anh ta có lòng đồng cảm trắc ẩn, và anh ta dừng lại, giúp đỡ người bị hại, lại còn bỏ tiền của mình ra để chăm sóc. CHÚA JESUS dạy đây mới là cách bày tỏ tình yêu kính với Đức Chúa Trời, qua việc chăm sóc quan tâm cách thực tế đến những người lân cận.
Đây là cảm xúc bình thường của con người – chạy trốn khỏi những phiền phức để không phải giúp đỡ ai cả. Còn đây là tình cảm từ thiên thượng – sự cảm thông sâu sắc, lòng thương xót trắc ẩn thúc đẩy đi giúp đỡ người khác.
2. Tại sao các môn đồ lại không thể cho đoàn dân ăn? (4) Hãy so sánh các môn đồ được miêu tả ở đây với sự kiện ở chương 6:35-37. Chúng ta hãy suy nghĩ về đức tin.
Chúng ta xem câu 4 “4 Môn đồ thưa rằng: Có thể kiếm bánh đâu được trong đồng vắng nầy cho chúng ăn no ư?” Cách đây không lâu các môn đồ cũng đã từng ở trong tình huống tương tự, nhưng dường như họ không học được điều gì cả. Họ không nhớ cái gì cả. Họ lại tìm cách trốn tránh trách nhiệm, đổ tội cho hoàn cảnh, cho điều kiện cá nhân. Chúng ta thấy 3 nguyên nhân gây nên sai lầm của họ: 1/ Nhìn vào hoàn cảnh: đồng vắng, đoàn dân đông. 2/ Nhìn vào điều kiện và năng lực của bản thân: chúng ta kiếm đâu ra? 3/ không nhìn lên CHÚA JESUS, quên rằng Đấng Tạo Hóa toàn năng đang hiện diện cùng họ. Chúng ta thấy Mác miêu tả chân dung của các môn đồ của Chúa rất tăm tối, tiêu cực. Nhưng qua đó chúng ta lại thấy mình cũng có hy vọng, vì từ những con người như vậy sau này CHÚA JESUS đã biến đổi họ thành những con người thay đổi lịch sử cả thế giới.
Chúng ta xem câu 5 “5 Ngài hỏi: Các ngươi có bao nhiêu bánh? Thưa: Có bảy cái.”
CHÚA JESUS trao đổi vấn đề này với các môn đồ, để họ cũng có tấm lòng giống Ngài, dám gánh vác trách nhiệm về mình. Ngài dường như đang hỏi: “Các con có cái gì? Các con có thể giúp được gì? Đừng cố đổ trách nhiệm giúp đỡ lên người khác. Đừng nói rằng các con sẽ giúp nếu như có khả năng. Đừng nói rằng trong những điều kiện hoàn cảnh như vậy thì không thể giúp đỡ được ai cả. Hãy ban ra những gì các con có thể và hãy xem kết quả sẽ như thế nào”. Chúa là Đấng chuyên biến những điều không thể thành có thể, biến những điều nhỏ nhặt tầm thường thành những điều lớn lao vĩ đại.
3. CHÚA JESUS đã làm gì với 7 cái bánh và mấy con cá? (6,7)
Chúng ta xem câu 6-9 “6 Ngài bèn biểu đoàn dân ngồi xuống đất; đoạn lấy bảy cái bánh, tạ ơn, rồi bẻ ra trao cho môn đồ để phân phát, thì môn đồ phân phát cho đoàn dân. 7 Môn đồ cũng có mấy con cá nhỏ; Đức Chúa Jêsus tạ ơn rồi, cũng khiến đem phân phát như vậy. 8 Ai nấy ăn no nê; rồi người ta thâu được bảy giỏ những miếng thừa. 9 Vả, những người ăn đó ước chừng bốn ngàn người. Đức Chúa Jêsus cho chúng về;” Qua phép lạ này CHÚA JESUS lại dạy lại cho các môn đồ đức tin CHÚA JESUS là Đấng Tạo Hóa toàn năng, và Đấng đó đang hiện diện cùng họ. Họ cần phải luôn luôn nhớ điều này và nhìn lên CHÚA JESUS, chứ không nhìn vào hoàn cảnh và nhìn vào điều kiện khả năng của bản thân. Hudson Taylor, nhà truyền giáo vĩ đại là người đầu tiên mở cánh cửa truyền giảng Tin Lành đến Trung hoa đại lục, đã nói như sau: “Trong các công việc của Đức Chúa Trời có 3 giai đoạn: đầu tiên là bất khả thi, sau đó là khó khăn, và cuối cùng là hoàn tất”.
Trong phân đoạn Kinh Thánh này chúng ta để ý thấy 2 điểm rất thú vị. Điểm thứ nhất, cách đây không lâu trong chương 5 khi CHÚA JESUS đến xứ Đecabôlơ, hy sinh đàn lợn để cứu người bị quỷ ám, thì người ta đã đuổi Chúa đi khỏi vì sợ thất thoát của cải. Người thanh niên này đã xin Chúa cho đi theo, nhưng Chúa sai anh ta về nhà và làm chứng về những điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho anh ta. Anh ta đã vâng phục và trở thành nhà truyền giáo đầu tiên ở xứ Đê-ca-bô-lơ, là xứ mà phần đông dân số là dân ngoại. Lần này khi CHÚA JESUS đến đây thì rất đông người đã tìm đến với Ngài. Có phải chăng đây là kết quả của công việc truyền giáo của người thanh niên bị quỷ ám được chữa lành? Phải chăng trong số 4000 người ở đây có nhiều người đã được nghe lời làm chứng về CHÚA JESUS và nhìn thấy nhân chứng sống qua người thanh niên này?
Còn 1 điểm thú vị nữa, đó là ở đây người ta thu được 7 giỏ bánh thừa. Trong chương 6:43 nói về 12 giỏ bánh, ở đây từ giỏ tiếng Hy-lạp là “kophinos” nói về giỏ của người Do-thái, giống cái giỏ bắt cá của người Việt, trên bé, dưới to. Còn trong phân đoạn Kinh Thánh này từ giỏ tiếng Hy-lạp là “sphiris” – là một cái hộp mà người ngoại dùng để đựng đồ. Một số nhà giải kinh cho rằng phải chăng trong chương 6 nói về việc thức ăn Thiên thượng được ban cho người Do-thái, còn ở chương 8 nói về việc thức ăn Thiên thượng được ban cho người ngoại? CHÚA JESUS là bánh từ trời, Ngài đến để ban thức ăn tâm linh cho nhân loại đang đói khát cả người Giu-đa, lẫn dân ngoại. Trong Ngài chính là Đức Chúa Trời đang dang tay ra để ôm lấy cả nhân loại.
II. CHÚA JESUS tranh luận với người pha-ri-si về dấu lạ từ trời (10-13)
4. Những người pha-ri-si đòi hỏi điều gì? (11) Nan đề của họ là gì? Tại sao CHÚA JESUS lại than trong lòng? (12-13)
Chúng ta xem câu 10-13 “10 rồi liền vào thuyền với môn đồ, sang xứ Đa-ma-nu-tha. 11 Có mấy người Pha-ri-si đến đó, cãi lẽ với Ngài, muốn thử Ngài, thì xin một dấu lạ từ trên trời. 12 Đức Chúa Jêsus than thở trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin dấu lạ? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, họ chẳng được ban cho một dấu lạ nào. 13 Ngài bèn bỏ họ, trở vào thuyền mà qua bờ bên kia.” Thời CHÚA JESUS người ta tin rằng khi Đấng Messiah đến, sẽ có những dấu kỳ phép lạ xảy ra. Những messiah giả đã lôi kéo được nhiều người khi hứa làm cho họ những phép lạ.
Ví dụ như rẽ nước sông Jordan, hay là phán ra một lời làm đổ bức tường thành,… Người pha-ri-si là đòi CHÚA JESUS làm ra những phép lạ như vậy. Họ muốn thấy trên trời hiện ra dấu kỳ làm cho người ta kinh ngạc. Trên thực tế thế giới xung quanh chúng ta, cuộc đời chúng ta mỗi ngày đầy dẫy phép lạ của Đức Chúa Trời. Chúng ta được mạnh khỏe, vẫn được Chúa chu cấp đầy đủ mọi sự cần dùng, … Trong câu chuyện về người giàu xấu nết và La-xa-rơ trong Lu-ca chương 16, chúng ta đọc “Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi, 28 vì tôi có năm anh em, đặng người làm chứng cho họ về những điều nầy, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn nầy chăng. 29 Áp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy! 30 Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn. 31 Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” Nếu có người nói: “tôi cần phải thấy phép lạ để có đức tin, để làm vững mạnh đức tin”, thì người đó là người láu cá trước mặt Chúa. Phép lạ không đem đến đức tin thật. Người như vậy không muốn vâng phục lời Chúa, bởi vì đức tin – đó là sự vâng phục lời Đức Chúa Trời. Khi chúng ta vâng phục lời Đức Chúa Trời, thì sẽ có phép lạ xảy ra.
III. CHÚA JESUS phán dặn về men người pha-ri-si (11-21)
5. Các môn đồ quên cái gì? (14) CHÚA JESUS đã răn dạy họ về điều gì? (15) Tại sao Ngài lại phán như vậy? Ngày nay chúng ta cần phải giữ mình cẩn thận về loại men nào?
Tại sao lời dạy đầu tiên trong chuyến đi thứ 3 lại là câu 14,15 “14 Vả, môn đồ quên đem bánh theo, trong thuyền chỉ có một cái bánh mà thôi. 15 Ngài răn môn đồ rằng: Hãy giữ mình cẩn thận về men người Pha-ri-si, và men đảng Hê-rốt.” Lúc này CHÚA JESUS đang suy nghĩ về nan đề người pha-ri-si đòi hỏi dấu lạ từ Ngài. CHÚA JESUS đang nói về tội lỗi của họ, về ảnh hưởng của họ. Men là một cục bột cũ, đã chua. Nếu trộn một cục men nhỏ vào thùng bột mới, chỉ 1 ngày sau, cả đống bột mới này sẽ bị nhiễm men, và phồng lên. Người Do-thái so sánh men với sự thối rữa, nên trong văn hóa Do-thái men tượng trưng cho sự ác. Men của người pha-ri-si tượng trưng cho sự kiêu ngạo, sự giả hình, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa luật pháp. Men của đảng Hê-rốt tượng trưng cho chủ nghĩa vật chất, những ham muốn thế gian, dục vọng, quyền lực. Nếu những loại men này gây ảnh hưởng lên các môn đồ, thì họ không thể nào học được đời sống đức tin, họ không thể nào có thể trở thành các môn đồ thật của Chúa.
CHÚA JESUS phán cách rất dứt khoát: “Hãy giữ mình cẩn thận”. Ngày hôm nay CHÚA JESUS cũng đang phán với mỗi chúng ta “Hãy giữ mình cẩn thận”. Chúng ta rất dễ dàng để cho mình bị cuốn trôi vào dòng chảy của thế gian, thông công nhiều với thế gian hơn với Chúa nên học sự khôn ngoan của thế gian để giải quyết các nan đề thường ngày. Giống như bà Sa-ra đã khuyên chồng mình giải quyết nan đề không có con vào ngủ cùng nàng hầu A-gha, theo sự khôn ngoan của thế gian, thay vì cầu nguyện để giúp chồng mình là Abraham giữ đức tin và vvâng phục lời Chúa. Trong công ăn việc làm chúng ta cũng có xu hướng học theo thế gian, mà không cầu nguyện xin Chúa sự dẫn dắt.
Cầu xin Chúa qua bài học ngày hôm nay giúp chúng ta luôn nhớ rằng CHÚA JESUS ở cùng chúng ta, Ngài chọn chúng ta làm môn đồ của Ngài và Ngài muốn chúng ta trở thành những người thuộc về Ngài, chứ không phải thuộc về thế gian, có tư tưởng giống Ngài, chứ không phải giống thế gian.
Amen.

Be the first to comment

Leave a Reply