ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ SYROPHÊNIXI
Mác 7:24-37
Câu khóa 7:28
Nếu chúng ta nhìn câu chuyện trong phân đoạn Kinh thánh ngày hôm nay trên phông nền chung của sách Tin Lành theo Mác, thì nó có lẽ là một trong những sự việc bất thường và cảm động nhất trong cuộc đời CHÚA JESUS. Đây cũng là sự kiện đầu tiên chép về một người dân ngoại nhận được ân điển nơi CHÚA JESUS, do đó nó chính là cánh én mùa xuân báo hiệu về chiến thắng khải hoàn trên toàn thế gian của CHÚA JESUS.
Lời Chúa hôm nay dạy chúng ta đức tin và sự khiêm nhường của một người đàn bà Syrophenixi và bày tỏ ân điển lớn lao của CHÚA JESUS dành cho tất cả các dân trên toàn thế giới. Cầu xin Chúa mở lỗ tai thuộc linh chúng ta để lắng nghe được tiếng phán của Đấng hằng sống đang phán với chúng ta qua bài giảng, qua lời của Ngài hôm nay. Amen.
I. Đức tin của người đàn bà Syrophênixi (24-30)
1. CHÚA JESUS đi đâu? (24) Có người đàn bà nào đến gặp Chúa? (25,26) Bà ta cầu xin điều gì? (26) Nhưng CHÚA JESUS đã có phản ứng như thế nào? (27) Tại sao?
Chúng ta xem câu 24-27 “Đoạn, Ngài từ đó đi đến bờ cõi thành Ty-rơ và thành Si-đôn. Ngài vào một cái nhà, không muốn cho ai biết mình, song không thể ẩn được. ”
Thành Ty-rơ và Si-đôn là 2 thành phố cảng của xứ Phênixi, nằm trên bờ biển Địa trung hải. Đó là trung tâm buôn bán và sản xuất. Phần đông dân số là người Gờ-réc (Hy-lạp). Dân ở đây nổi tiếng vì sự kiêu ngạo và đam mê sự xa hoa. Hoàng hậu Giê-sa-bên vợ vua A-háp nổi tiếng về thờ thần tượng trong Cựu ước là con gái của vua Si-đôn. Bầu không khí ở đây không hề thuộc linh chút nào. Khi CHÚA JESUS đến đây, Ngài ẩn mình để không ai biết. Nhưng điều ngạc nhiên là rất nhiều dân chúng lại tìm đến để nghe Ngài giảng lời Chúa. Rõ ràng là tất cả mọi người đều cần lời Đức Chúa Trời, cần thức ăn tâm linh.
Chúng ta xem câu 25-27 “Vì có một người đàn bà, con gái người bị tà ma ám, đã nghe nói về Ngài, tức thì vào gieo mình dưới chân Ngài. 26 Đàn bà ấy là người Gờ-réc, dân Sy-rô-phê-ni-xi. Người xin Ngài đuổi quỉ ra khỏi con gái mình. 27 Đức Chúa Jêsus phán cùng người rằng: Hãy để con cái ăn no nê trước đã; vì không lẽ lấy bánh của con cái quăng cho chó.”
Trong số những người đến với Chúa có một người đàn bà, đã sấp mình nơi chân của Chúa, cầu xin Ngài giúp đỡ đứa con gái bị quỷ ám. CHÚA JESUS trả lời rằng “không lẽ lấy bánh của con cái quăng cho chó.” Thoạt nghe chúng ta thấy câu trả lời này thật đáng sợ! Thời đó chó không được yêu chuộng như bây giờ, giống như chúng ta nói với một ai đó: “cún yêu”. Thời đó, trong văn hóa Hy-lạp chó tượng trưng cho người đàn bà lăng loàn mất nết, “hàng tôm hàng cá”. Văn hóa Do-thái cũng coi chó là danh từ thóa mạ, họ so sánh chó với dân ngoại. Nói chung, chó là một từ thóa mạ tiêu cực. Thế thì, làm thế nào để giải thích câu nói này của CHÚA JESUS ở đây?
1/ Trong nguyên ngữ tiếng Hy-lạp, từ chó ở đây được thêm vào một “hậu tiền tố” (suffix) không phải để chỉ chó hoang, mà dùng để chỉ một loại chó cảnh màu trắng, nhỏ xinh nuôi trong nhà Bolognese – có nguồn gốc từ tỉnh Bolonia, nước Ý. Bằng cách đó CHÚA JESUS loại bỏ đi màu sắc tiêu cực của từ này.
2/ Thứ hai, rõ ràng ngữ điệu và nét mặt của CHÚA JESUS khi nói về từ này rất khác. Cũng một từ, nhưng nói theo nhiều cách khác nhau sẽ mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Có lẽ CHÚA JESUS vừa nói nhẹ nhàng vừa mỉm cười, làm cho câu nói không còn nghĩa tiêu cực.
3/ Trong mọi trường hợp câu nói của CHÚA JESUS không đóng cánh cửa lại trước mặt cô ta. Ngài nói trước tiên con cái phải được ăn no nê đã, nhưng chỉ là trước tiên, sau đó thức ăn còn thừa lại đủ cho cả vật nuôi được ăn no nê. Bánh ở đây tượng trưng cho “lời Đức Chúa Trời, Tin Lành, sự cứu rỗi, và chính CHÚA JESUS.” Và rõ ràng là Tin Lành của CHÚA JESUS trước tiên được đem đến cho dân Do-thái, vì trong mọi trường hợp họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời để làm chức vụ thầy tế lễ. Nhưng chỉ là trước tiên, rồi sau đó Tin Lành cũng được rao truyền cho tất cả các dân tộc khác. Các sứ đồ của CHÚA JESUS tất cả đều là người Do-thái. Và họ có trách nhiệm rao giảng Tin Lành ra khắp đất. Nhờ ân điển lớn lao của Chúa mà chúng ta được trở thành con cái của Đức Chúa Trời và những kẻ đồng thừa kế Nước Thiên Đàng đời đời của Ngài.
2. Người đàn bà này đã trả lời như thế nào? (28) Hãy suy nghĩ về đức tin và tình yêu của bà. Tại sao CHÚA JESUS lại ban phước cho bà ta? (29-30)
Chúng ta xem câu 28 “28 Song người đáp lại rằng: Lạy Chúa, hẳn vậy rồi; nhưng mà chó dưới bàn ăn mấy miếng bánh vụn của con cái.”
Qua tấm gương của người đàn bà này chúng ta học được 4 điều sau:
- Chúng ta cần phải có tấm lòng đối với con chiên như người mẹ Syrophenixi đối với con gái của mình. Chúng ta phải khẩn thiết nài xin Chúa cho con chiên. Chúa đẹp lòng những người có tấm lòng quan tâm lo lắng đối với con chiên như cha mẹ với con cái, và Ngài thường trả lời sự cầu nguyện của họ.
- Đức tin. Người đàn bà đã tin tưởng một cách tuyệt đối rằng CHÚA JESUS có thể chữa lành cho con gái của cô ta. Chúng ta cũng tin cậy tuyệt đối rằng CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng trên mọi nan đề, mọi tội lỗi, tà ma ám trong đời sống của các con chiên.
- Sự khiêm nhường. Câu trả lời của CHÚA JESUS cho lời khẩn cầu của người đàn bà chính là sự thử thách đức tin và tấm lòng của cô. Khi nghe câu nói của CHÚA JESUS, cô ta có thể tự ái và bỏ đi. Và khi đó thì câu chuyện cuộc đời của cô kết thúc ở đây. Nhưng cô có đức tin, và cô đã khiêm nhường tiếp nhận thậm chí cả “sự hắt hủi”, vì cô tin rằng CHÚA JESUS là Chúa của sự nhân từ. Qua các nan đề, khó khăn, thử thách, Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta sự khiêm nhường, hạ mình xuống dưới tay Chúa. Nhiều khi ai đó chạm đến lòng tự ái, tự trọng của chúng ta, chúng ta liền nổi nóng, tức giận, tự ái tổn thương, và bỏ đi, tung hê hết, tỏ thái độ bất cần đời. Làm thế nào để chúng ta có thể học được sự khiêm nhường, sự hạ mình, luôn nhường nhịn? Khi mọi chuyện ổn, tiền bạc rủng rỉnh, vợ con đề huề? Chúa nhiều lúc đưa chúng ta vào tình huống khó xử, để chúng ta học cách không tự ái tổn thương, mà phải hạ mình khiêm nhường.
- Sự khôn ngoan. Sự khôn ngoan thật chỉ phát xuất từ đức tin và sự khiêm nhường. Người phụ nữ này là người Hy-lạp, cũng rất hài hước, nên cô ta ngay lập tức để ý thấy nụ cười và tiếu ý của CHÚA JESUS. Cô hiểu rằng cánh cửa không đóng lại trước mặt cô. Cô liền lấy ngay một hình ảnh sinh động trong đời sống thường ngày để trả lời Chúa. Thời đó người ta chưa có thìa, dĩa, dao, giấy ăn. Người ta ăn bốc bằng tay, rồi sau đó lấy những mẩu bánh nhỏ để chùi tay, rồi ném xuống gầm bàn, và chó thì đợi sẵn ở đó. Kể cả khi không ai cho miếng nào, thì chó cũng không bị tự ái tổn thương. Người phụ nữ đã lấy ví dụ khiêm nhường từ những chú chó chực ăn, và công nhận mình không xứng đáng, mình không là ai trước mặt Chúa. Đó là sự khiêm nhường – công nhận và luôn cho rằng mình không là ai cả, không phải là vẻ ngoài khiêm tốn lịch sự. Sự khiêm nhường – đó là khi tôi tự giác nhường nhịn, chịu thua, chịu sự sỉ nhục hắt hủi bất công vô lý. Cô nói: “Vâng, tôi biết là trước tiên phải cho con cái ăn no đã, nhưng chẳng lẽ tôi cũng không được ăn vài miếng bánh vụn ném xuống gầm bàn cho chó sao?” CHÚA JESUS rất thích câu trả lời này. Số phận của cô rất đau buồn, con gái của cô đang đau ốm, nhưng trong lòng cô có đức tin rất lạc quan tươi sáng, và cô đã trả lời cách rất khiêm nhường và hài hước. Đức tin của cô bị thử thách, và được lộ ra là đức tin thật. Lời cầu nguyện của cô được nhậm và nan đề của cô được giải quyết.
Chúng ta xem câu 29-30 “29 Ngài bèn phán: Hãy đi, vì lời ấy, quỉ đã ra khỏi con gái ngươi rồi. 30 Khi người trở về nhà, thấy đứa trẻ nằm trên giường, và quỉ đã bị đuổi khỏi.” CHÚA JESUS là Đấng chiến thắng, khi Ngài phán ở rất xa, nhưng ma quỷ đang ám đứa trẻ cũng phải vâng phục lời Ngài. Người đàn bà Sy-rô-phê-ni-xi tượng trưng cho toàn bộ thế giới người ngoại cố gắng để lấy được bánh Thiên đàng mà dân Do-thái khước từ bỏ đi. Chiến thắng của CHÚA JESUS ở đây tượng trưng cho sự khởi đầu chiến thắng của Ngài trên toàn bộ thế giới. Tất cả những ai có đức tin đều được hưởng phước hạnh của Ngài giống người đàn bà Sy-rô-phê-ni-xi này. Sau này sứ đồ Phao-lô chép: “Thật vậy, tôi không hổ thẹn về Tin Lành đâu, vì là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu mọi kẻ tin, trước là người Giu-đa, sau là người Gờ-réc; 17 vì trong Tin Lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời, bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa, như có chép rằng: Người công bình sẽ sống bởi đức tin.” (Rô-ma 1:16-17)
II. Chúa chữa lành cho người điếc ngọng (31-37)
3. Người ta đem ai đến với Chúa? (32) CHÚA JESUS đã làm gì và phán gì? (33,34) Kết quả là gì? (35) Sự việc này đã bày tỏ điều gì về CHÚA JESUS? (Ê-sai 35:5-6)
Chúng ta xem câu “31 Đức Chúa Jêsus lìa bờ cõi thành Ty-rơ, qua thành Si-đôn và trải địa phận Đê-ca-bô-lơ, đến biển Ga-li-lê. 32 Người ta đem một người điếc và ngọng đến cùng Ngài, xin Ngài đặt tay trên người.”
Khi CHÚA JESUS đến địa phận Đê-ca-bô-lơ, thì người ta đem một người điếc và ngọng đến cùng Ngài. Chúng ta khó có thể tưởng tượng được anh ta đã đau khổ như thế nào vì sự không hiểu, cô đơn, và mặc cảm tự ti. Người này theo triệu chứng thì điếc dẫn đến bị ngọng. Người ngọng điếc này tượng trưng cho nhân loại bị điếc ngọng về tâm linh. Họ không nghe thấy lời phán của Đức Chúa Trời. Họ cố gắng thỏa mãn tâm hồn bằng tiền bạc, danh vọng, quyền lực, nhưng không thể nào tìm thấy hạnh phúc thật sự. Sau khi mọi cuộc vui tàn, thì tâm hồn đầy dẫy sự thất vọng và trống rỗng.
Chúng ta xem câu “33 Ngài đem riêng người ra, cách xa đám đông, rồi để ngón tay vào lỗ tai người, và thấm nước miếng xức lưỡi người. 34 Đoạn Ngài ngửa mặt lên trời, thở ra mà phán cùng người rằng: Ép-pha-ta! nghĩa là: Hãy mở ra! 35 Tức thì tai được mở ra, lưỡi được thong thả, người nói rõ ràng.” Ở đây chúng ta thấy CHÚA JESUS dùng một phương pháp độc nhất vô nhị để chữa bệnh mà không thấy miêu tả ở đâu nữa.
- CHÚA JESUS đem riêng người bệnh ra, vì thường người câm điếc cảm thấy ngượng ngùng khi ở chỗ đông người. CHÚA JESUS đối xử rất tinh tế và lịch sự đối với người bệnh này, Ngài cho chúng ta thấy rằng trong người bệnh cũng có một nhân cách đáng tôn trọng, bất kỳ con người nào cũng được tạo dựng nên theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Chúng ta cần phải tôn trọng tất cả mọi người, bất kể họ là ai, bởi vì trong mỗi người đều có hình ảnh của Đức Chúa Trời.
- CHÚA JESUS đặt ngón tay vào lỗ tai người, và thấm nước miếng xức lưỡi người. Thời đó người ta tin vào tính chất chữa bệnh của nước bọt. Lịch sử có chép lại những kết quả kỳ lạ khi các bác sỹ dùng nước bọt để chữa bệnh. Sau đó Ngài ngửa mặt lên trời, để cho người bệnh biết rằng sự chữa lành đến từ Đức Chúa Trời, rồi Ngài thở ra mà phán cùng người rằng: Ép-pha-ta! nghĩa là: Hãy mở ra!Ngay lập tức quyền năng của Lời Chúa đã chữa lành bệnh câm ngọng cho người bệnh. Khi Ngài đến thế gian, Ngài đem đến cho con người sự chữa lành cả thể xác và tâm linh, Ngài lại bắt đầu một công trình sáng tạo mới. Từ lúc ban đầu mọi sự đều tốt lành, nhưng tội lỗi đã làm hư hoại hết. CHÚA JESUS lại tiếp tục công trình sáng tạo mới, đem sự đẹp đẽ của Đức Chúa Trời đến cho thế giới bị tội lỗi làm cho méo mó xấu xí.
Chúng ta xem câu “36 Đức Chúa Jêsus cấm chúng chớ nói điều đó cùng ai; song Ngài càng cấm người ta lại càng nói đến nữa.” Tại sao Chúa lại cấm người ta nói điều đó? Bởi vì Chúa không muốn họ nhìn nhận và tiếp nhận Ngài cách sai lầm: nghĩa là người ta chỉ tiếp nhận CHÚA JESUS như Đấng chữa lành, Đấng làm phép lạ, Đấng ban phước hạnh giải quyết nan đề. Nhưng CHÚA JESUS muốn con người tiếp nhận Ngài chính là Đấng Tạo Hóa. Mà nếu Ngài là Đấng Tạo Hóa, còn chúng ta là tạo vật của Ngài, thì mối quan hệ giữa Tạo Hóa và tạo vật là gì? Tạo vật cần phải vâng phục Đấng Tạo Hóa, làm theo lời Ngài, sống theo mục đích của Ngài đặt ra, sống theo tiêu chuẩn của Ngài.
Chúng ta xem câu “37 Chúng lại lấy làm lạ quá đỗi mà rằng: Ngài làm mọi việc được tốt lành: khiến kẻ điếc nghe, kẻ câm nói vậy!” Đây là sự xác nhận những gì tiên tri Ê-sai phán trước về Đấng Messiah, Đấng Christ, Chúa Cứu Thế. “Bấy giờ, những kẻ mù sẽ mở mắt, những kẻ điếc sẽ rỗng tai. 6 Bấy giờ, kẻ què sẽ nhảy như con nai, lưỡi kẻ câm sẽ hát.” (Ê-sai 35:5-6) Qua công việc của CHÚA JESUS thì mắt thuộc linh được mở ra để thấy Nước Trời, tai thuộc linh của tội nhân được mở ra để nghe thấy lời Đức Chúa Trời, và miệng lưỡi mở ra để ngợi khen tôn vinh Chúa.
Qua bài học ngày hôm nay chúng ta học rằng con người có đức tin cần phải đến với Chúa với sự khiêm nhường, giống như người đàn bà Sirophenixi. Kẻ kiêu ngạo không thể nào học được đức tin, vì Đức Chúa Trời chống cự lại kẻ kiêu ngạo, Ngài coi kẻ kiêu ngạo là kẻ thù và ở đâu Ngài cũng chống lại kẻ kiêu ngạo: trong nhà, ra đường, nơi làm việc, trên giường, trên xe ô-tô, thậm chí cả ở nhà thờ, trong mục vụ, trong những buổi nhóm. Nhưng Đức Chúa Trời ban ơn cho kẻ khiêm nhường, nghĩa là ở đâu Ngài cũng ban ơn: trong nhà, ra đường, nơi làm việc, trên giường, trên xe ô-tô, lúc ăn lúc ngủ. Cầu xin Chúa mở lỗ tai thuộc linh chúng ta hôm nay để lắng nghe được tiếng phán của Đấng hằng sống. Amen.
Leave a Reply
Bạn phải đăng nhập để gửi phản hồi.