Vũ trụ quan của Phật giáo

Vào năm 1915 Einstein cho xuất bản một bài khảo cứu thuần lý thuyết về một lý thuyết vũ trụ mới gọi là thuyết Tương Đối Tổng Quát (TĐTQ). Theo lý thuyết này, vũ trụ là một không-thời gian 4 chiều (cao, rộng, sâu và thời gian), bị cong lại vì trong đó có sự hiện diện của năng lượng (và đương nhiên là vật chất, vì vật chất và năng lượng hoán chuyển được với nhau theo quan hệ E=mc2 theo lý thuyết Tương Đối Hẹp cũng của Einstein). Để giúp chúng ta hình dung ra ý chính của thuyết TĐTQ dễ hơn, chúng ta hãy tưởng tượng vũ trụ 4 chiều như tấm ga trải giường được căng ra. Trên tấm ga đó chúng ta bỏ một trái banh bằng chì nặng (tượng trưng cho vật chất – hay năng lượng – hoán chuyển với nhau theo TĐH). Khi có sự hiện diện của trái banh chì, tấm ga bị lõm xuống do sức nặng của trái banh. Vũ trụ 4 chiều cũng như tấm ga vậy, khi có sự hiện diện của vật chất/năng lượng, bị cong lại như trong hình minh hoạ sau đây:

bai2_clip_image001

Hình 1- Minh hoạ của vũ trụ bi cong lại do sự hiện diện của vật chất/năng lượng (tượng trưng bằng trái banh ở chính giữa).

Hệ quả của thuyết TĐTQ là vũ trụ đang giãn nở. Vũ trụ giãn nở (VTGN) không có nghĩa là vật chất đang văng xa nhau ra trong một vũ trụ đứng yên mà chính vũ trụ đang nở ra như một cái hoa. Để giúp chúng ta hiểu rõ thêm về thuyết VTGN, chúng tôi đơn giản hoá vũ trụ là hình cầu 4 chiều thành hình cầu 2 chiều (tức là hình tròn) với các hình vuông tô đậm tượng trưng cho các thiên hà (xem Hình 2). Khi vũ trụ nở ra, tức là đường kính của vòng tròn lớn lên, khoảng cách theo đường cong giữa các thiên hà cũng tăng theo.

images

Hình 2.- Sự giãn nở của vũ trụ 4 chiều (cao, rộng, sâu và thời gian) được minh hoạ trong 2 chiều. Mỗi hình vuông tô đậm tượng trưng cho một thiên hà. Càng ngày các thiên hà càng văng xa ra so với các thiên hà khác. 

Vào năm 1929, Edwin Hubble, là một nhà thiên văn người Hoa Kỳ khám phá bằng thực nghiệm là các thiên hà thực sự đang văng xa khỏi nhau.

Phật giáo:

Vũ trụ và thời gian là bất biến theo Phật giáo. Vũ trụ của Phật giáo là một vũ trụ tĩnh. Phật giáo cần đến điều này vì:

1- Nếu thời gian là bất biến thì không có nguyên nhân đầu tiên. Không có nguyên nhân đầu tiên tức không có Đấng gây ra nó, tức là Đấng Tạo Hoá. Không những Phật giáo không tin vào một đấng tạo hoá mà còn không tin vào sự hiện hữu của bản ngã nữa. Đối với triết lý này, niềm tin vào sự hiện hữu của bản ngã là nguyên nhân của sự đau khổ. Do vậy muốn thoát ra khỏi sự đau khổ thì chúng sinh phải giác ngộ vô ngã. Giác ngộ vô ngã được gọi là nhập Niết Bàn [1]. Đấng Tạo Hoá, vũ trụ, chúng sinh và bản ngã, theo Phật giáo, chỉ là sản phẩm của cái “tâm” vì “nhất thiết duy tâm tạo.” (Nhưng nếu cái “tâm” sáng tạo ra hết mọi chuyện thì nó cũng có thể sáng tạo ra Niết Bàn và Phật Tổ.)

2- Nếu do nghiệp mà chúng sinh luân hồi mãi mãi trong thời gian vô tận, tự tồn tự tại, thì chúng sinh còn vô số cơ hội để tự sửa mình. Do đó con người không phải đối diện với Đấng Tạo Hoá cũng là Đấng cầm cán cân công lý. Đối với nhiều người theo Phật giáo, con người chính là thượng đế của chính mình, vì mình tạo ra nghiệp, và chính nghiệp đó sẽ tạo ra cái đời sau mình sẽ đầu thai vào. Do đó, nếu chúng sinh biết cách tự tu hành, thì càng ngày, kiếp sau sẽ khá hơn kiếp trước, và biết đâu một ngày, nghiệp lực tắt và cá nhân đó nhập Niết Bàn. Trong Phật giáo, chúng sinh chịu trách nhiệm với chính mình về việc mình làm chứ không cần một Đấng Phán Xét nào cả.

Do đó, Phật giáo là triết lý tôn giáo của chủ nghĩa vô thần. Phật giáo cũng là chủ nghĩa tiến hoá mang màu sắc tôn giáo. Vì vậy, rất nhiều lý thuyết gia Phật giáo cố gắng dụng ép thuyết tiến hoá sinh học và các lý thuyết khoa học khác làm trợ lực cho tôn giáo mình. Tuy nhiên sự gượng ép của những hệ thống triết lý không xứng hợp chỉ đem đến sự tự hủy mà thôi.

Be the first to comment

Leave a Reply